Connect with us

Blog

Bản chất giai cấp và bản chất xã hội của pháp luật

Published

on

Bản chất giai cấp và xã hội của pháp luật được thể hiện như thế nào? Bản chất của luật là gì? Hiểu được bản chất của pháp luật sẽ giúp công dân chấp hành pháp luật tốt hơn. Hãy cùng DaiLyWiki VN tìm hiểu bản chất giai cấp và xã hội của pháp luật.

1. Bản chất giai cấp và xã hội của pháp luật

1.1 Bản chất giai cấp của pháp luật

Luật giai cấp.

Bản chất của pháp luật nhà nước Việt Nam là mang tính giai cấp, thể hiện ở ý chí nhà nước của giai cấp thống trị. Chủ thể ban hành pháp luật là nhà nước, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải tuân theo thủ tục, trình tự do nhà nước quy định.

Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh. Mục đích điều chỉnh của pháp luật trước hết là điều chỉnh các mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội. Vì vậy, pháp luật được coi là nhân tố giúp điều chỉnh các quan hệ xã hội có giai cấp nhằm hướng các quan hệ xã hội phát triển theo một trật tự phù hợp nhất với ý chí của giai cấp thống trị.

1.2 Bản chất xã hội của pháp luật

Mọi quy phạm pháp luật dù do cơ quan nhà nước nào ban hành đều nhằm mục đích điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Tính xã hội của quy phạm thể hiện ở khái niệm của nó: Quy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự chung, có tính ràng buộc phổ biến, được áp dụng lặp đi lặp lại … Đã là quy tắc xử sự nói chung thì đương nhiên nó sẽ mang tính xã hội.

Xem thêm  Trút mọi muộn phiền với top 5 game đập phá thả ga, phá hủy mọi thứ sau đây

Ngoài ra, bản chất xã hội của pháp luật còn được thể hiện ở những điểm sau:

  • Pháp luật có nguồn gốc từ xã hội, do các thành viên trong xã hội làm ra, vì sự phát triển của xã hội.
  • Quy phạm pháp luật bắt nguồn từ thực tiễn đời sống xã hội, phản ánh nhu cầu, lợi ích của các giai cấp, tầng lớp xã hội, được các cá nhân, cộng đồng, các tầng lớp khác nhau trong xã hội áp dụng. được xã hội chấp nhận, coi là chuẩn mực, quy tắc ứng xử chung
  • Các quy phạm pháp luật được thực hiện trong thực tiễn đời sống xã hội vì sự phát triển của xã hội.

2. Ví dụ về giai cấp và bản chất xã hội của pháp luật

2.1 Ví dụ về bản chất giai cấp của pháp luật

Nhà nước giao quyền ban hành và tạo ra Bộ luật, luật cho Quốc hội. Quốc hội là giai cấp cầm quyền, đứng đầu cơ quan lập pháp.

Ví dụ: Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa 13, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2015.

2.2 Ví dụ về bản chất xã hội của pháp luật

Pháp luật được quy định để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội.

Chẳng hạn, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định con cái có nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ.

Xem thêm  Đề thi thử Toán THPT Quốc gia 2021 cụm liên trường THPT Quảng Nam

Các quy định của pháp luật bắt nguồn từ các mối quan hệ và hành vi xã hội

Chẳng hạn, BLHS cũ không quy định chủ thể là pháp nhân thương mại, nhưng do điều kiện xã hội đã phát sinh chủ thể này nên BLHS sau này đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp hơn với luật. sự phát triển của xã hội

Trên đây DaiLyWiki VN đã phân tích và đưa ra những ví dụ cho bạn đọc về bản chất giai cấp và xã hội của pháp luật.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác tại mục Tài liệu của DaiLyWiki VN

Những bài viết liên quan:

  • Đặc điểm của pháp luật là gì?
  • Quyền quản lý tài sản trực tiếp được gọi là gì?
  • Quyền khai thác giá trị sử dụng của tài sản được gọi là?

Như vậy, trong nội dung bài viết trên đây, DaiLy Wiki đã cập nhật cho bạn thông tin về “Bản chất giai cấp và bản chất xã hội của pháp luật❤️️”. Hy vọng thông qua những gì bài viết “Bản chất giai cấp và bản chất xã hội của pháp luật” đã chia sẻ có thể giúp bạn đọc thêm nhiều thông tin về “Bản chất giai cấp và bản chất xã hội của pháp luật [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết về “Bản chất giai cấp và bản chất xã hội của pháp luật” được sưu tầm và đăng bởi admin DaiLy Wiki vào ngày 2022-09-23 16:51:21. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại Dailywiki.org

Rate this post
Continue Reading

Blog

Cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang của Huy Cận (7 mẫu)

Published

on

Phân tích và cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang trong thơ của Huy Cận để thấy đây là một bức họa đẹp mà buồn. Tác phẩm được kiến tạo bởi tâm hồn nhạy cảm của thi nhân cùng với tình yêu đất nước và thiên nhiên sâu đậm. Trong bài viết dưới đây, hãy cùng DaiLyWiki tìm hiểu, phân tích và cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang.

DaiLyWiki cũng giúp giải đáp những vấn đề sau đây:

  • Dàn ý bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng giang
  • Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng giang
  • Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Từ ấy
  • Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Cảnh ngày hè
  • Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ cảnh ngày hè gợi ra điều gì
  • Về tranh Tràng giang
  • Qua bài thơ Tràng giang”, tác giả muốn gửi gắm điều gì
  • Chuyến đò ngang và cây cầu là phương tiện có ý nghĩa


Mở bài cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang

“ Của ong bướm này đây tuần tháng mậtNày đây hoa của đồng nội xanh lè

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Bạn đang đọc: Cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang của Huy Cận

Của yến anh này đây khúc tình si ”

( Vội vàng – Xuân Diệu )

Những câu thơ trên là khúc hát say sưa yêu đời trước vẻ đẹp cuộc sống trần thế của Xuân Diệu. Cũng viết về thiên nhiên, nhưng Huy Cận lại mang đến một màu sắc khác. Không phải là những nốt nhạc tươi vui giục giã con người sống gấp để tận hưởng hương sắc của cuộc đời, mà đó là những nốt nhạc buồn du dương trước khung cảnh rộng lớn của thiên nhiên. Một nỗi buồn nhẹ nhàng man mác khắp cả đất trời – một nỗi buồn vạn kỷ rất riêng của Huy Cận. Qua bức tranh thiên nhiên Tràng giang, Huy Cận cũng đã giãi bày cả nỗi lòng mình.

Tìm hiểu về tác giả Huy Cận và bài thơ Tràng giang

Trước khi nghiên cứu và phân tích bức tranh thiên nhiên Tràng giang của Huy Cận, người đọc cần nắm được những nét chính về tác giả cũng như tác phẩm .

Đôi nét về nhà thơ Huy Cận

Huy Cận ( sinh năm 1919 – mất năm 2005 ) tên khai sinh là Cù Huy Cận, quê ở thành phố Hà Tĩnh. Thuở nhỏ, ông học ở quê rồi vào Huế học hết trung học. Năm 1939, ông ra TP. Hà Nội học trường cao đẳng Canh nông. Từ năm 1942, Huy Cận tích cực hoạt động giải trí trong mặt trận Việt Minh .Ông tham gia Quốc dân đại hội Tân Trào, được bầu vào Ủy ban dân tộc bản địa giải phóng toàn nước. Sau Cách mạng tháng Tám, ông liên tục tham gia chính quyền sở tại cách mạng và giữ nhiều trách nhiệm khác nhau. Năm 1996, ông được Nhà nước trao tặng phần thưởng Hồ Chí Minh về văn học thẩm mỹ và nghệ thuật .Trong nghành nghề dịch vụ văn học, Huy Cận đã có nhiều góp phần cho nền văn học nước nhà và là một trong những khuôn mặt tiêu biểu vượt trội của trào lưu thơ mới. Huy Cận yêu thích thơ Đường nhưng đồng thời cũng chịu nhiều tác động ảnh hưởng của văn học Pháp. Vì thế trong thơ của Huy Cận, ta vừa phát hiện những nét lãng mạn đậm chất phương tây lại vừa phát hiện vương vấn trong mỗi vần thơ phong vị Đường thi .Sáng tác của Huy Cận hoàn toàn có thể chia ra làm hai tiến trình trước và sau cách mạng tháng tám. Dù ở quá trình nào, Huy Cận cũng đạt được nhiều thành tựu. Trước cách mạng Tháng tám, hoàn toàn có thể nhắc đến tập thơ Lửa thiêng ( 1937 – 1940 ), văn xuôi Kinh cầu tự ( 1942 ), tập thơ Vũ trụ ca ( 1940 – 1942 ). Sau cách mạng Tháng tám, ông có bút lực dồi dào hơn và có nhiều thay đổi .Huy Cận tìm thấy sự hòa điệu giữa con người và xã hội. Điều đó được bộc lộ trong những tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng ( 1958 ), Đất nở hoa ( 1960 ), Bài thơ cuộc sống ( 1963 ), Những năm sáu mươi ( 1968 ) …

Tìm hiểu về bài thơ Tràng giang

Bài thơ Tràng giang được trích từ tập thơ Lửa thiêng. Vào năm 1939, một buổi chiều thu, ông đứng ở bờ nam bến Chèm. Khi nhìn thấy dòng chảy của sông Hồng, ông tâm lý về cuộc sống và sáng tác nên bài thơ này. Khung cảnh sông nước hữu tình cộng hưởng với tâm hồn đa cảm của nhà thơ đã gợi tứ cho “ Tràng Giang ”. Và tiêu đề của bài thơ đã là một điều gì rất đẹp nhưng buồn. Phân tích thiên nhiên Tràng giang, ta thấy đó là nỗi niềm của một cái tôi đơn độc lạc lõng giữa dòng chảy của cuộc sống được bộc lộ rõ nét qua khung cảnh thiên nhiên .

Cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang của Huy Cận

Từ muôn đời nay, thiên nhiên vẫn luôn là người bạn tri âm tri kỷ của hồn mộng thi sĩ. Thiên nhiên gắn bó, đồng cảm và sẻ chia với thi nhân mọi xúc cảm cũng như nỗi lòng. Nếu như hoa lá cỏ cây mê hồn và rạo rực cùng tâm hồn sôi sục Vội vàng của Xuân Diệu, trăng và đêm chao đảo điên cuồng cùng nỗi đau của Hàn Mặc Tử … và sông trời mây nước trong thiên hà này sầu “ ảo não ” với nỗi buồn “ vạn kỷ ” của tâm hồn Huy Cận. Bức tranh thiên nhiên Tràng giang rất đẹp, sinh động nhưng cũng thấm đượm nỗi buồn tủi đơn độc của người nghệ sĩ .

Sự bao la rợn ngợp của sông nước

Bài thơ mở ra một bức tranh thiên nhiên Tràng giang rất đẹp, bàng bạc một nét đẹp cổ xưa. Vẫn là đề tài quen thuộc ấy, từ những thi liệu và bút pháp thẩm mỹ và nghệ thuật vốn có trong thơ cổ, nhà thơ của Lửa thiêng đã vẽ nên trên nền trời mây, sông nước bát ngát vô cùng, vô tận những sự vật nhỏ bé, đặc trưng .Trong quy trình nghiên cứu và phân tích bức tranh thiên nhiên Tràng giang, có lẽ rằng điều khiến người đọc ấn tượng hơn cả là những hình ảnh như sóng gợn, thuyền trôi, gió vắng ngắt, bến cô liêu, bèo dạt, mây cao, núi bạc, chim nghiêng … gợi nên cái hồn thiên nhiên của thơ ca từ bao đời này. Có lẽ, nếu cứ nhìn người ta vẫn ngỡ đó là khoảng trống của cảnh đẹp tiêu sơ và tĩnh mịch vốn thấy trong thơ Đường. Thế nhưng, bức tranh thiên nhiên Tràng giang hiện ra trước hết là khung cảnh rợn ngợp bát ngát của đất trời .

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song”

Mở đầu bài thơ là hình ảnh những con sóng tiếp nối đuôi nhau, tiếp nối đuôi nhau nhau đến tận chân trời. Sự lê dài của những cơn sóng như bất tận tạo cảm xúc có vẻ như khoảng trống cũng được lan rộng ra ra. Từ “ gợn ” được tác giả dùng thật khéo không chỉ gợi được sự hoạt động của sóng nước mà còn gợi được một cảm xúc mơ hồ, nhẹ nhàng nhưng day dứt xao xuyến mãi không nguôi như những cơn sóng vẫn miệt mài ngày đêm xô vào bờ. Từ “ gợn ” ấy ta cũng từng phát hiện trong ca dao

“Chiều chiều bước xuống ghe buôn

Sóng bao nhiêu gợn dạ em buồn bấy nhiêu”

(Ca dao)

Con sóng của đại dương hay chính là con sóng của tâm hồn đang xao xuyến ? Cảm giác mơ hồ ấy ngày càng can đảm và mạnh mẽ hơn để rồi bộc bạch trực tiếp thành một nỗi niềm “ buồn điệp điệp ”. Từ láy “ điệp điệp ” thường được dùng để diễn tả cảnh núi non hùng vĩ hay khung cảnh hùng tráng trong Việt Bắc .

“Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”

(Việt Bắc – Tố Hữu)

Còn trong câu thơ của Huy Cận, bức tranh thiên nhiên Tràng giang với “ điệp điệp ” lại được dùng để chỉ nỗi buồn. Nỗi buồn vốn là một trạng thái xúc cảm vô hình dung chỉ hoàn toàn có thể cảm thấy nhưng trong phối hợp này nỗi buồn ấy lại có hình có khối. Nỗi buồn ấy theo con nước mà tràn trề. Đứng trước khung cảnh rợn ngợp của thiên nhiên ấy mấy ai mà không thấy buồn mấy ai mà không thấy mình nhỏ bé bất lực .

Bởi lẽ đó mà “con thuyền xuôi mái”. Con thuyền dường như cũng thấy mình bất lực trước dòng chảy. Dù có cố gắng mấy nhưng cuối cùng con thuyền vẫn xuôi theo dòng nước không thể cưỡng lại được. Đó cũng là sự bất lực của con người trước dòng chảy của thời gian. Giữa sự chảy trôi tuyến tính của thời gian, sự xuất hiện của con người chỉ như mây khói thoáng qua.

Phân tích bức tranh thiên nhiên Tràng giang, ta thấy từ “ song song ” tự nhiên như vạch ra ranh giới giữa con thuyền và sóng nước gợi ra một cảm xúc về sự chia li. Ở hai dòng thơ đầu, nghệ thuật và thẩm mỹ đối của thơ Đường đã được vận dụng tinh xảo trong cách sử dụng từ láy. “ Điệp điệp ” so với “ song song ”. Không chỉ đối về mặt thanh điệu mà còn so với nhau về ý. Cả hai cùng gợi ra một khoảng trống to lớn chất chứa nỗi buồn nhân thế .

“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”

Thuyền và nước vốn gắn liền nhau nhưng trong khổ thơ đầu lại chia lìa nhau. Nếu ở câu thơ trên, thuyền và nước có vẻ như “ song song ” thì ở dòng thơ này thuyền và nước lại tách rời nhau mỗi nơi mỗi ngả. Sự chia li của cảnh vật hay cũng chính là sự chia li của lòng người .

Nghệ thuật tiểu đối “thuyền về nước lại” càng nhấn mạnh thêm nỗi niềm ấy. Nếu ở trên là “buồn điệp điệp” thì bây giờ lại là “sầu trăm ngả”. Ở trạng thái “sầu” ta bắt gặp một cảm xúc có phần mạnh mẽ, mãnh liệt và ám ảnh hơn “buồn”. Như trong câu thơ của Nguyễn Du “Sầu đông càng lắc càng đầy”.

Nỗi sầu ấy không chất chồng chất đống mà lan tỏa ra khắp “ trăm ngả ”. “ Trăm ” là một số lượng ước lệ chỉ số lượng nhiều. “ Trăm ngả ” không phải là hướng chảy của dòng nước mà là của nỗi sầu. Bức tranh thiên nhiên Tràng giang còn bộc lộ ở nỗi sầu theo con sóng xô dạt đến tận chân trời xa. Con sóng lòng bất tận ấy ta cũng từng phát hiện trong vần thơ nhẹ nhàng đằm thắm nhưng không kém phần da diết của Xuân Quỳnh .

“Dẫu xuôi về phương bắc

Dẫu ngược về phương nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh một phương”

(Sóng – Xuân Quỳnh)

Giữa khoảng trống to lớn bát ngát, không riêng gì có sự Open nhỏ bé của chiếc thuyền mà bức tranh thiên nhiên Tràng giang còn được điểm tô thêm bằng sự Open của cành củi khô .

“Củi một cành khô lạc mấy dòng”

Kết cấu đảo ngược đã nhấn mạnh vấn đề thêm sự Open của cành củi. Đây là một hình ảnh độc lạ. Khi nói về sự nhỏ bé của kiếp người, thi nhân thường dùng hình ảnh chiếc thuyền

“Chiếc bách buồn vì phận nổi nênh

Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh”

(Tự tình III – Hồ Xuân Hương)

Hay như tác giả dân gian so sánh với :

“Thân em như trái bần trôi

Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu”

(Ca dao)

Nhưng Huy Cận lại thể hiện số phận nhỏ bé của con người qua hình ảnh cành củi. Bản thân hình ảnh cành củi đã gợi lên một sự nhỏ bé chỉ đành lênh đênh trôi nổi trên dòng nước không có bến bờ để neo đậu nhưng đó còn là một cành củi khô. Không chỉ cô đơn mà còn là một sự khô héo đến thiếu sức sống.

Xem thêm: Đồ án Máy ép thủy lực.

Lần tiên phong trong thơ văn Open hình ảnh cành củi khô tuy đơn sơ nhưng lại giàu sức gợi. Bức tranh thiên nhiên Tràng giang hiện lên với hình ảnh một cành củi khô đơn lẻ, cô quạnh bát ngát trên sóng nước cũng là hình ảnh con người bơ vơ đến tận cùng giữa vòng xoáy của cuộc sống. Đó cũng là tâm trạng của thi nhân khi đứng trước dòng sông to lớn bát ngát mà nghĩ về cuộc sống .

Bãi bờ quạnh vắng cô đơn

Sự đơn độc không chỉ Open ở nơi dòng sông to lớn bát ngát mà còn Open ở khung cảnh hai bên bờ sông .

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài trời rộng bến cô liêu”

Bức tranh thiên nhiên Tràng giang hiện lên với cảnh vật phong phú và nhiều mẫu mã. Không gian cũng được lan rộng ra hơn. Từ khoảng trống hẹp của cồn nhỏ, chợ chiều đến khoảng trống to lớn của sông dài trời rộng. Tất cả ngơ như đầy sức sống nhưng sau cuối lại chìm trong sự tịch liêu. Từ láy “ lơ thơ ”, “ vắng ngắt ” gợi lên sự buồn bã quạnh vắng .Nghệ thuật tăng cấp càng khiến cho không gian tịch mịch hơn. Chợ đã tàn người cũng tàn vốn đã buồn chợ chiều nay càng buồn hơn. Âm thanh chợ tàn ấy vang vọng từ xa đến nơi đây. Từ “ đâu ” vang lên vừa như một âm thanh mơ hồ xa xôi vừa như một là tự hỏi âm thanh ấy từ đâu mà vang vọng lại .Dấu hiệu của đời sống Open nhưng không tương vui giòn giã, thúc giục như bản hòa ca của đời sống mà im vắng. Nghệ thuật tiểu đối lại một lần nữa phát huy hiệu quả trong phối hợp đặc biệt quan trọng “ nắng xuống trời lên ”. Nắng và trời bỗng chốc như tách rời nhau để lan rộng ra khoảng trống. “ Xuống ” và “ lên ” là hai khunh hướng ngược nhau đặt trong cùng vế đối khiến cho khoảng trống như được kéo dãn ra cùng với nỗi niềm của con người .Có phải vì lẽ đó mà khoảng trống trở nên “ sâu chót vót ”. Từ láy “ chót vót ” vốn được dùng để chỉ độ cao nhưng Huy Cận lại dùng từ láy này để gợi mở độ sâu. Phải chăng đây là một dụng ý nghệ thuật và thẩm mỹ của thi nhân. Cách phối hợp ấy đã khiến khoảng trống của bức tranh thiên nhiên Tràng giang như được đẩy ra hết mọi chiều kích của thiên hà. Càng rộng, càng sâu, càng cao thì cảnh vật càng thêm yên lặng. Nỗi buồn tựa hồ thấm đẫm trong cả khoảng trống .

“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”

Bức tranh thiên nhiên Tràng giang còn hiện lên với hình ảnh bèo được dùng để diễn đạt số phận con người bấp bênh vô định. Và Huy Cận cũng dùng hình ảnh cánh bèo trong thơ mình để một lần nữa nhấn mạnh vấn đề sự nhỏ bé bấp bênh của đời người. Bèo dạt không phải nương theo cơn sóng để sống sót là mặc cho cơn sóng xô đẩy. Không phải là một cánh bèo mà cả là một hàng. Hàng nối hàng tiếp nối đuôi nhau nhau nhưng đau lòng hơn đó không là đời sống của một kiếp người mà là của một bộ phận không nhỏ người trẻ tuổi trong thực trạng xã hội bế tắc đương thời .Từ láy bát ngát đứng đầu dòng thơ diễn đạt được sự to lớn bát ngát của khoảng trống. Điệp từ “ không ” Open liên tục trong hai dòng thơ gợi sự vắng vẻ đơn độc tuyệt đối. Thi nhân như phủ nhận mọi mối quan hệ, có vẻ như tự cô lập mình với cuộc sống xung quanh và cũng đồng thời phủ nhận mối link giữa người với người .Chính vì không có mối link nào mà con người đứng trước khoảng trống to lớn dễ rơi vào trạng thái đơn độc. Từ láy lặng lẽ đứng đầu câu càng tăng thêm sự lạng lẽ đến nao lòng của khoảng trống. “ Xanh ”, “ vàng ” là những gam màu tươi tắn. Sự Open này điểm tô thêm những gam màu tươi tắn cho bức tranh thiên nhiên nhưng không xua đi được nỗi cô đơn giá băng của lòng người .

Bóng chiều cùng nỗi nhớ quê

Tiếp đến là khung cảnh thiên nhiên Tràng giang ở hai bên bờ, tầm mắt của thiên nhiên lại hướng lên trên và cũng như phóng tầm nhìn ra xa hơn nơi chân trời để thấy

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”

Câu thơ khởi đầu bằng từ láy “ lớp lớp ” diễn đạt số lượng nhiều. Những đám mây như chất chồng chất đống vào nhau hết lớp này đến lớp khác. Huy Cận đã sử dụng tinh xảo động từ “ đùn ”. “ Đùn ” không chỉ miêu tả sự chồng chất của đối tượng người dùng mà còn miêu tả được sức sống như đang căng tràn xô đẩy nhau, gợi được vẻ đẹp trang trọng của thiên nhiên – núi mây khổng lồ được vạt nắng chiếu vào tạo thành hình ảnh núi bạc. Ta cũng từng phát hiện từ đùn ấy trong ý thơ của Nguyễn Trãi

“Hòe lục đùn đùn tán rợp giương”

(Cảnh ngày hè – Nguyễn Trãi)

Giữa đám mây bát ngát là cánh chim nhỏ bé trái chiều với khoảng trống to lớn. Thế nhưng, giữa hai đối tượng người dùng không có từ link như một khoảng chừng trống giữa câu thơ gợi cho người đọc nhiều tâm lý. Bức tranh thiên nhiên Tràng giang còn biểu lộ ở cánh chim như đang chở nặng bóng chiều, vì bóng chiều mà cánh chim bỗng trở nên nhỏ bé hơn ? Hay vì cánh chim chao lượn như kéo cả bóng chiều ? Dù hiểu theo cách nào ta vẫn thấy cánh chim đơn độc giữa một khoảng chừng không mênh mang. Cánh chim bơ vơ lạc lõng hay chính lòng người cũng hoang mang lo lắng tìm kiếm một điểm tựa .Một khung cảnh thiên nhiên trang trọng, hùng vĩ Open. Trên phông nền thiên nhiên là cả một tấm lòng dành cho đời .

“Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Lòng quê chính là tình cảm thiêng liêng dành cho quê nhà quốc gia. Câu thơ gợi lên cảm xúc xốn xang, không dứt, trở đi trở lại như một nỗi ám ảnh. Từ đó cho thấy tình yêu với quốc gia quê nhà như lan tỏa thấm đãn theo từng con nước. Nỗi nhớ thế cho nên mà trở nên da diết hơn .Thôi Hiệu nhìn thấy làn khói sóng mờ ảo trên sông mà nhớ đến quê nhà. Còn Huy Cận không cần một tín hiệu gợi nhắc mà tình cảm ấy lại ùa về tràn ngập tâm hồn. Tiếng sóng của khoảng trống biển lớn bát ngát hay chính là tiếng sóng lòng của nhà thơ, cuồn cuộn không nói nên lời .Đây chính là nỗi niềm của một người đứng trên quê nhà mà lại nhớ về quê nhà. Và đó cũng là nguyên do sâu xa cũng nỗi đơn độc, sự bất lực trước thực tại. Liên hệ với thực trạng thực tiễn quốc gia lúc bấy giờ ta càng đồng cảm thêm tâm trạng của thi nhân khi đứng trước cảnh sông dài trời rộng nhưng bến lại là bến bờ quạnh vắng cô liêu .

Nhận xét tác phẩm khi phân tích bức tranh thiên nhiên Tràng giang

Bức tranh thiên nhiên Tràng giang được vẽ lên bởi những hình ảnh đơn sơ mộc mạc nhưng giàu sức gợi. Một thi hứng tưởng chừng quen thuộc trong thơ ca – nỗi buồn nhân thế trước cảnh trời đất cô liêu nhưng trong niềm cảm hứng của Xuân Diệu lại mang một vẻ đẹp rất riêng vừa quen thuộc lại vừa mang sắc tố riêng .Bài thơ có sự vận dụng phối hợp nhuần nhị giữa bút pháp văn minh và bút pháp cổ xưa. Ẩn trong bức tranh thiên nhiên Tràng giang còn là bức tranh tâm trạng của thi nhân. Một nỗi buồn da diết nhẹ nhàng nhưng đầy ám ảnh trong từng câu từng chữ. Đó là nỗi sầu của cái tôi đơn độc trước thiên hà to lớn bát ngát. Tuy nhiên le lói đâu đó ta vẫn thấy được một sự khát khao giao cảm hòa nhập với cuộc sống của thi nhân .Bởi vậy bức tranh thiên nhiên Tràng giang nói riêng hay thiên nhiên trong Thơ mới nói chung, dẫu đẹp đến đâu nhưng vẫn đượm buồn. Đó là cái nét yên ắng, tách rời nhau trong những sự vật trên của thiên nhiên nhưng thực ra được gợi dậy từ một tâm hồn buồn trong lòng người thi nhân .Nhà thơ của tập Lửa thiêng như chở nỗi sầu quá lớn, thậm chí còn là nỗi sầu của cả một thế hệ nên khoảng trống trong thơ ông cứ nới rộng ra mà lòng người vẫn u uất. Không gian trong bức tranh thiên nhiên Tràng giang càng lớn thì con người càng nhỏ bé, đơn độc và lạc lõng .Nhưng đằng sau những xúc cảm ấy, người đọc vẫn nhìn thấy những ngọt ngào về tâm sự thầm kín của thi nhân. Huy Cận có lẽ rằng phải yêu và gắn bó với mảnh đất quê nhà lắm, mới nhìn đâu cũng thấy ám ảnh bởi nỗi buồn. Nhà thơ đứng trên đất quê mình, cảnh đẹp quê mình mà sao đâu đâu cũng thấy yên lặng, tàn lụi. Bức tranh thiên nhiên Tràng giang còn được khơi dậy bởi nỗi nhớ nhà ở cuối bài thơ, giúp xóa nhòa cái cảm xúc thiếu thốn ngay khi ở trên quê nhà .

Kết bài: Khi cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang, người đọc nhận ra bài thơ cũng chính là tiếng lòng của Huy Cận đối với cuộc đời này. Bức tranh thiên nhiên Tràng giang không tách biệt mà hòa cùng nỗi niềm của con người – một nỗi buồn vạn cổ. Giữa sự nhỏ bé của con người trước dòng đời, thi nhân cũng đã tìm thấy được bến đỗ, điểm tựa – đó chính là quê hương. Bài thơ đã khép nhưng dư âm của nó vẫn còn vang vọng mãi như những cơn sóng cứ xô mãi xô mãi vào lòng người đọc.

Dàn ý phân tích bức tranh thiên nhiên Tràng giang

Mở bài về bức tranh thiên nhiên Tràng giang

  • Giới thiệu đôi nét về tác giả Huy Cận cùng tác phẩm Tràng giang .
  • Dẫn dắt về chủ đề thiên nhiên trong thơ ca lâu nay, từ đó liên hệ bức tranh thiên nhiên Tràng giang .

Thân bài về bức tranh thiên nhiên Tràng giang

  • Bức tranh thiên nhiên Tràng giang bộc lộ sự bát ngát rợn ngợp nơi sông nước .
  • Bãi bờ quạnh vắng đơn độc trong xúc cảm của thi nhân .
  • Bóng chiều và nỗi nhớ quê nhà da diết .

Kết bài về bức tranh thiên nhiên Tràng giang

  • Đánh giá lại tác giả tác phẩm .
  • Đánh giá nội dung về bức tranh thiên nhiên Tràng giang .

Nhà thơ Huy Cận đã miêu tả bức tranh thiên nhiên Tràng giang với những gì vốn có, thậm chí còn cả những thứ quá nhỏ bé, tầm thường. Có thể thấy, dưới con mắt đa sầu, đa cảm của nhà thơ Huy Cận đã biến hóa nó thành những hình ảnh đầy chất thẩm mỹ và nghệ thuật. Như vậy, khi nghiên cứu và phân tích bức tranh thiên nhiên Tràng giang, ta còn nhận thấy cái đẹp không phải cứ phải hiện lên qua những cảnh sắc lộng lẫy, mà nhiều lúc chỉ cần có sự giao hòa với tâm hồn thi sĩ thì mọi thứ đều trở nên đẹp và có hồn .

Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng Giang – Mẫu 1

Tràng giang là bài thơ hay nói về thiên nhiên của dòng sông Trường Giang, dưới con mắt của thi sĩ nó trở nên vô cùng thơ mộng và đầy tinh tế. Dưới cái nhìn đầy gợi cảm và phong phú, bài thơ đã có sự kết hợp mạnh mẽ giữa những yếu tố kì ảo và thơ mộng trữ tình, để có thể có được một bức tranh thiên nhiên đẹp hùng vĩ.

Mở đầu bài thơ tác giả đã thể hiện hình ảnh sóng gợn trên con sông Trường Giang dài mà mang một nỗi buồn man mác, ở đây tác giả cũng đang thể hiện đúng dòng tâm trạng của mình, trước khung cảnh thiên nhiên rộng mênh mang, con người như đang trôi chảy theo nhịp sống, cũng tấp nập và cũng vô cùng dịu dàng, trước một khung cảnh thiên nhiên, tươi tắn và cũng vô cùng thơ mộng:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Hình ảnh của con sóng đang gợn, đó là dòng tâm trạng của con người cũng đang chảy trôi, lăn tăn trên dòng nước, ở đó con người như đang hòa nhập và tạo nên nhiều khung cảnh trữ tình, dòng nước trôi miên man, con người cũng đang hòa nhập trên dòng sông, với những cảm xúc buồn man mác, con người ở đây cũng phải hòa mình vào dòng cảm xúc đang chảy của thiên nhiên trữ tình. Hình ảnh con thuyền tự trôi theo dòng nước, cứ xuôi mái, ở đây dường như không có người lái đò, nó tự trôi chảy, ở đây thiên nhiên cũng giống như tâm trạng của con người, cũng đang lững lờ trôi mà không có một bờ vô định nào, cuộc sống cũng đang chảy trôi theo những dòng cảm xúc hỗn dung nhiều cảm giác của con người.

Ở đây trong không gian mênh mông rộng lớn đó, dường như sóng, và dòng nước đang làm bạn với con thuyền, nhưng khi thuyền mà về thì dòng nước cũng mang những nỗi buồn man mác, cách xây dựng biện pháp nhân hóa ở đây được thể hiện một cách có ý nghĩa nhất. Tác giả thổi hồn mình vào sự vật, làm cho nó trở nên có hồn hơn, con người cũng đang chảy trôi theo dòng nước, nỗi buồn của nước giống như nỗi buồn của con thuyền, ở đó con người đang phải lênh đênh, vô định, trước một khoảng không gian mênh mông. Con thuyền ở đây nó được thể hiện trong cảm xúc của con người, nó vô định, dạt dào và mang nhiều cảm giác mới mẻ, ở đó con người được sống những giây phút hạnh phúc nhất khi đang hòa mình vào thiên nhiên mặc dù con người đang phải trải qua những giây phút trống vắng trong tâm hồn.

Ở đây biện pháp đảo ngữ cũng được sử dụng hết sức tinh tế, tác giả không viết là củi khô mà lại viết “củi một cành khô”, ở đây biện pháp đảo ngữ làm tăng thêm độ mênh mang, dào dạt trong cảm xúc của con người, ở đó con người đang dạt dào nhiều cảm xúc, hình ảnh lạc mấy dòng cũng thể hiện được dòng tâm trạng hiu hắt, nó làm lay động trái tim của người đọc bởi tính chất và mức độ thể hiện ở đó, cách thể hiện đầy tinh tế, nó làm gia tăng thêm cảm xúc và giá trị trong tác phẩm, mỗi lời thơ đều được cảm nhận bằng những tính chất và mức độ khác nhau, chính vì vậy cuộc sống của con người cũng đang rơi vào những bờ lạc lõng, tâm trạng của thi sĩ cũng mang nhiều cảm xúc bởi nó có hồn và chứa chan nhiều giá trị sống:

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống, chiều lên sâu chót vót
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”

Hình ảnh dài và rộng của dòng sông cũng được thể hiện một cách sâu sắc và có nhiều ý nghĩa nhất, dòng sông mênh mang chứa chan bao nhiêu cảm xúc của thi sĩ, trước con mắt của tác giả dòng sông đang trôi dạt theo nhiều cảm xúc và nó cũng trở nên trữ tình:

“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”

Hình ảnh của bèo dạt thể hiện được sự trôi nổi, không có bờ đến, và rồi sự mênh mông đó cũng thể hiện cảm xúc của con người đang hòa mình vào dòng tâm trạng và cảm xúc của con người, bờ xanh thể hiện một cảnh vật thiên nhiên tươi tắn, nó cũng thể hiện một dòng tâm trạng xa xôi và hiu hắt của con người:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Hình ảnh của núi bạc, của những cánh chim nghiêng đang sà vào bóng chiều xa, với những hình ảnh đó tác giả đang có cảm xúc với hình ảnh của nhớ dòng sông và nhớ quê hương, hình ảnh đó gợi lại cho con người nhiều cảm xúc.

Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng giang như vẽ ra trước mắt người đọc một khung cảnh thiên nhiên, và dòng sông rộng mênh mang, trong đó tâm hồn con người cũng đang dạt dào trước nỗi nhớ quê hương.

Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng Giang – Mẫu 2

Chẳng biết tự bao giờ, thiên nhiên trở thành nguồn cảm hứng bất tận của thi ca. Thời đại nào cũng vậy, thiên nhiên luôn gợi nên nhiều cảm xúc trong lòng thi nhân. Thơ mới những năm 1930 đã coi thiên nhiên là một đề tài không thể thiếu. Những Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính,… đã mang tới những bức tranh thiên nhiên đẹp trong thơ. Và không thể không nhắc tới Huy Cận – một gương mặt xuất sắc, tiêu biểu của phong trào thơ mới. Tuy thơ ông luôn chất chứa sâu nặng nỗi buồn nhân thế nhưng vẫn khiến người đọc nao lòng trước vẻ đẹp của thiên nhiên. Điều đó được thể hiện rõ nét qua bài thơ Tràng giang – một sáng tác in trong tập Lửa thiêng (1940).

Thiên nhiên trong Tràng giang được gợi cảm hứng từ một con sông rộng lớn, mênh mông vào buổi chiều mùa thu 1939 khi tác giả đạp xe ngắm cảnh. Dù đó là con sông Hồng nhưng nhà thơ không gọi đích danh tên, mà gọi là “tràng giang” như thể đại diện cho bất cứ con sông nào của quê hương đất nước. Bởi vậy mà mọi cảnh vật đều thu hút vào tầm mắt của thi nhân, dẫu đẹp, dẫu buồn nhưng vẫn chất chứa những tình cảm thầm kín. Bức tranh thiên nhiên vì thế được hiện lên qua không gian của trời nước bao la, mênh mang đến rợn ngợp cõi lòng thi nhân.

Trước hết, Tràng giang mở ra một bức tranh thiên nhiên đẹp, bàng bạc một nét đẹp cổ xưa. Vẫn là đề tài quen thuộc, những thi liệu và bút pháp nghệ thuật vốn có trong thơ cổ, Huy Cận đã vẽ nên trên nền trời mây, sông nước mênh mông vô cùng, vô tận những sự vật nhỏ bé, đặc trưng. Có lẽ điều khiến người đọc ấn tượng trong bài thơ là những hình ảnh như sóng gợn, thuyền trôi, gió đìu hiu, bến cô liêu, bèo dạt, mây cao, núi bạc, chim nghiêng… gợi nên cái hồn thiên nhiên của thơ ca cả nghìn năm trước. Quả thực, nếu cứ nhìn người ta vẫn ngỡ đó là không gian của cảnh đẹp tiêu sơ, vắng lặng vốn thấy trong thơ Đường. Mà có lẽ nét cổ xưa nhất trong bài thơ phải kể đến hình ảnh chim nghiêng cánh nhỏ ở khổ cuối cùng. Nó gợi lên cảnh sắc rất thơ. Cánh chim trở trời chiều, chở linh hồn của vũ trụ reo rắc xuống trần gian.

Nhưng tác giả của Lửa thiêng lại kiếm tìm những sự vật mới, khiến bức tranh thiên nhiên mang hơi thở hiện đại. Có lẽ chưa bao giờ người ta bắt gặp trong thơ trước đó những thứ đời thường, bình dị, mộc mạc, chẳng hề ước lệ tượng trưng như Củi một cành khô lạc mấy dòng. Sắc thái của khung cảnh thiên nhiên bỗng trở nên đặc biệt hơn bao giờ hết, khi thi nhân bỗng nhìn thấy một sự vật đã khô kiệt, mất hết sức sống, đang trôi nổi, lênh đênh trên dòng nước. Chưa bàn đến ý nghĩa tâm tư mà nhà thơ gửi gắm, chỉ thấy chi tiết này đã phác họa thêm cho bức tranh tràng giang cái nét đẹp rất riêng. Thiên nhiên đẹp chưa chắc đã là những gì mơn mởn sức sống, chính cái khô kiệt của cành củi trên dòng sông càng làm cho cảnh vật có nét đẹp cuốn hút của nó. Thậm chí ngay cả cái cách nhìn hàng bèo của tác giả cũng gợi lên cảm giác về một khung cảnh thiên nhiên không phải bằng những nét vẽ cầu kì.

Và không thể phủ nhận nét đẹp bao trùm của thiên nhiên trong Tràng giang không phải là những khoảnh khắc giao mùa trong cái nhìn say đắm của Xuân Diệu, không có nét đặc trưng riêng có của một vùng quê xứ Huế như trong thơ Hàn Mặc Tử, mà đẹp theo những góc độ khác nhau của không gian. Điều hấp dẫn người đọc chính là nhà thơ đã mở nó rộng ra ở mọi chiều mà ngay từ nhan đề “Tràng giang” hay lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”, thiên nhiên được nhìn theo cái biên độ vô cùng, vô tận của nó. Suốt cả bài thơ, độ lớn không giới hạn ấy, còn được gọi là không gian vũ trụ đã làm nền cảnh để bức tranh tràng giang mang một nét đẹp đặc trưng, riêng có mà không bài thơ nào có được.

Nắng xuống trời lên sâu chót vót
Sông dài trời rộng bến cô liêu

Chỉ riêng câu thơ này đã tạo nên những chiều kích hết tầm của không gian ở cả ba chiều. Khung cảnh thiên nhiên được đo bởi khoảng cách ngược chiều trong độ sâu của nắng, độ cao rộng của trời và độ dài của sông. Thực ra chỉ cần những thứ nhỏ bé mà nhà thơ nhìn thấy trong khung cảnh ấy cũng đủ để nói lên sự rộng lớn của khung cảnh giống như thơ xưa. Nhưng dường sự cảm thức bị ám ảnh bởi không gian trong hồn thơ Huy Cận đã khiến ông phác họa nên những nét vẽ rộng hơn, mênh mông hơn. Chính vì thế trong con mắt của thi nhân đâu đâu cũng là thiên nhiên: lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng hay:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.

Thiên nhiên bỗng mang những nét hùng vĩ, tráng lệ mà chẳng cần đến những núi non trùng điệp, chỉ cần mọi thứ được khuếch đại hết tầm theo mọi chiều của không gian như trong bài thơ này. Nét thơ mộng trong khung cảnh vì thế cũng dần dần được mở ra.

Tuy nhiên cái vắng lặng, hoang sơ, im lìm đến hiu hắt cũng là một nét đẹp riêng trong khung cảnh thiên mà Tràng giang thể hiện được. Có thể thấy phông nền chủ đạo của thiên nhiên trong bài thơ là sự rộng lớn, mênh mông của sông nước, mây trời, nhưng cái cảm giác tĩnh lặng mới chính là cái hồn cốt tạo nên nét đẹp của bức tranh này. Có lẽ chưa bao giờ người ta thấy một không gian nào lớn như Tràng giang, nhưng cũng chưa bao giờ thấy không gian rộng lớn nào mà lại yên ắng, quạnh hiu như thế. Sóng dẫu nhiều cũng chỉ gợn trên mặt nước mênh mông. Thuyền những tưởng gieo sự sống nhưng lại buông trôi, lững lờ như chẳng liên quan gì đến nước. Những cồn nhỏ gió đìu hiu, bến cô liêu càng tô đậm sự yên ắng. Và ngay cả âm thanh làng xa vãn chợ chiều có thực sự phảng phất đâu đây cũng không làm cho khung cảnh thêm phần sống động. Chính cái mênh mông không cầu, không đò của một dòng sông như thế cũng là một nét đẹp mà thiên nhiên trong bài thơ đã mang lại. Vẫn phải thừa nhận nhà thơ Huy Cận đã sử dụng một hệ thống từ láy gợi cảm giác, nhất là những từ láy nguyên đã làm cho cái không khí vắng vẻ, quạnh hiu trên dòng sông hiển hiện được. Các từ như điệp điệp, song song, lơ thơ, đìu hiu, lặng lẽ, lớp lớp, dợn dợn… cứ nối tiếp nhau từ đầu đến cuối bài thơ đã duy trì cái cảm giác cô quạnh như thế trong khung cảnh thiên nhiên.

Xem thêm  Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Mùa xuân nho nhỏ

Bởi vậy mới nói, thiên nhiên trong Tràng giang hay thiên nhiên trong thơ mới, dẫu đẹp đến đâu nhưng vẫn đượm buồn. Cái nét yên ắng, tách rời nhau trong những sự vật trên của thiên nhiên thực chất được gợi dậy từ hồn buồn trong lòng thi nhân. Huy Cận chở nỗi sầu quá lớn, thậm chí là nỗi sầu của cả một thế hệ nên không gian trong thơ ông cứ nới rộng ra mà lòng người vẫn u uất. Không gian thiên nhiên càng lớn thì con người càng nhỏ bé, cô đơn và lạc lõng. Nhưng đằng sau những xúc cảm ấy người ta vẫn nhìn thấy những lắng đọng về tâm sự thầm kín của thi nhân. Nhà thơ hẳn phải yêu và gắn bó với mảnh đất quê hương lắm, mới nhìn đâu cũng thấy ám ảnh bởi nỗi buồn. Đứng trên đất quê mình, cảnh đẹp quê mình mà sao đâu đâu cũng thấy vắng lặng, tàn lụi. Nỗi nhớ nhà ở cuối bài thơ vì thế mới trỗi dậy để xóa nhòa cái cảm giác thiếu thốn ngay khi còn ở trên quê hương.

Nếu nói đến cái đẹp về thiên nhiên trong bài thơ này thì quả thực Tràng giang đã làm được điều ấy. Huy Cận miêu tả khung cảnh trên một dòng sông với những gì vốn có, thậm chí cả những thứ quá nhỏ bé, tầm thường. Nhưng dưới con mắt đa sầu, đa cảm của thi nhân, ông đã biến hóa nó thành những hình ảnh đầy chất nghệ thuật. Cái đẹp không phải cứ phải hiện lên qua những cảnh sắc lung linh, mà đôi khi chỉ cần nó cũng đồng điệu với lòng người thì sự vật có tầm thường thì cũng trở nên đẹp đẽ.

Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng Giang – Mẫu 3

Tràng giang là bài thơ hay nói về thiên nhiên của dòng sông, dưới con mắt của thi sĩ nó trở nên vô cùng thơ mộng và đầy tinh tế. Dưới cái nhìn đầy gợi cảm và phong phú, bài thơ đã có sự kết hợp mạnh mẽ giữa những yếu tố kì ảo và thơ mộng trữ tình, để có thể có được một bức tranh thiên nhiên đẹp hùng vĩ.

Mở đầu bài thơ tác giả đã thể hiện hình ảnh sóng gợn trên con sông dài mà mang một nỗi buồn man mác, ở đây tác giả cũng đang thể hiện đúng dòng tâm trạng của mình, trước khung cảnh thiên nhiên rộng mênh mang, con người như đang trôi chảy theo nhịp sống, cũng tấp nập và cũng vô cùng dịu dàng, trước một khung cảnh thiên nhiên, tươi tắn và cũng vô cùng thơ mộng:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Hình ảnh của con sóng đang gợn, đó là dòng tâm trạng của con người cũng đang chảy trôi, lăn tăn trên dòng nước, ở đó con người như đang hòa nhập và tạo nên nhiều khung cảnh trữ tình, dòng nước trôi miên man, con người cũng đang hòa nhập trên dòng sông, với những cảm xúc buồn man mác, con người ở đây cũng phải hòa mình vào dòng cảm xúc đang chảy của thiên nhiên trữ tình. Hình ảnh con thuyền tự trôi theo dòng nước, cứ xuôi mái, ở đây dường như không có người lái đò, nó tự trôi chảy, ở đây thiên nhiên cũng giống như tâm trạng của con người, cũng đang lững lờ trôi mà không có một bờ vô định nào, cuộc sống cũng đang chảy trôi theo những dòng cảm xúc hỗn dung nhiều cảm giác của con người.

Ở đây trong không gian mênh mông rộng lớn đó, dường như sóng, và dòng nước đang làm bạn với con thuyền, nhưng khi thuyền mà về thì dòng nước cũng mang những nỗi buồn man mác, cách xây dựng biện pháp nhân hóa ở đây được thể hiện một cách có ý nghĩa nhất. Tác giả thổi hồn mình vào sự vật, làm cho nó trở nên có hồn hơn, con người cũng đang chảy trôi theo dòng nước, nỗi buồn của nước giống như nỗi buồn của con thuyền, ở đó con người đang phải lênh đênh, vô định, trước một khoảng không gian mênh mông. Con thuyền ở đây nó được thể hiện trong cảm xúc của con người, nó vô định, dạt dào và mang nhiều cảm giác mới mẻ, ở đó con người được sống những giây phút hạnh phúc nhất khi đang hòa mình vào thiên nhiên mặc dù con người đang phải trải qua những giây phút trống vắng trong tâm hồn.

Ở đây biện pháp đảo ngữ cũng được sử dụng hết sức tinh tế, tác giả không viết là củi khô mà lại viết “củi một cành khô”, ở đây biện pháp đảo ngữ làm tăng thêm độ mênh mang, dào dạt trong cảm xúc của con người, ở đó con người đang dạt dào nhiều cảm xúc, hình ảnh lạc mấy dòng cũng thể hiện được dòng tâm trạng hiu hắt, nó làm lay động trái tim của người đọc bởi tính chất và mức độ thể hiện ở đó, cách thể hiện đầy tinh tế, nó làm gia tăng thêm cảm xúc và giá trị trong tác phẩm, mỗi lời thơ đều được cảm nhận bằng những tính chất và mức độ khác nhau, chính vì vậy cuộc sống của con người cũng đang rơi vào những bờ lạc lõng, tâm trạng của thi sĩ cũng mang nhiều cảm xúc bởi nó có hồn và chứa chan nhiều giá trị sống:

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống, chiều lên sâu chót vót
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”

Hình ảnh dài và rộng của dòng sông cũng được thể hiện một cách sâu sắc và có nhiều ý nghĩa nhất, dòng sông mênh mang chứa chan bao nhiêu cảm xúc của thi sĩ, trước con mắt của tác giả dòng sông đang trôi dạt theo nhiều cảm xúc và nó cũng trở nên trữ tình:

“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”

Hình ảnh của bèo dạt thể hiện được sự trôi nổi, không có bờ đến, và rồi sự mênh mông đó cũng thể hiện cảm xúc của con người đang hòa mình vào dòng tâm trạng và cảm xúc của con người, bờ xanh thể hiện một cảnh vật thiên nhiên tươi tắn, nó cũng thể hiện một dòng tâm trạng xa xôi và hiu hắt của con người:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Hình ảnh của núi bạc, của những cánh chim nghiêng đang sà vào bóng chiều xa, với những hình ảnh đó tác giả đang có cảm xúc với hình ảnh của nhớ dòng sông và nhớ quê hương, hình ảnh đó gợi lại cho con người nhiều cảm xúc.

Cảm nhận bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng giang đã đọng lại trong lòng người đọc một khung cảnh thiên nhiên và dòng sông rộng mênh mang, trong đó tâm hồn nhà thơ cũng đang dạt dào một nỗi nhớ quê hương bất tận.

Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng Giang – Mẫu 4

Huy Cận một trong những nhà thơ nổi bật nhất trong phong trào Thơ Mới. Tập thơ đầu tay của ông là Lửa thiêng đã ghi những dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc. Nổi bật nhất trong tập thơ ấy ta không thể không nhắc đến Tràng giang. Tác phẩm không chỉ là nỗi niềm cô đơn khắc khoải của nhân vật trữ tình mà dưới ngòi bút tài hoa của Huy Cận một thiên nhiên thật đẹp, thật buồn cũng hiện lên vô cùng ấn tượng, rõ nét.

Tác phẩm được gợi cảm hứng từ những con sông rộng lớn, mênh mông của đất nước. Đọc Tràng giang người ta cố công tìm kiếm hình ảnh một con sông cụ thể lẩn khuất sau những câu chữ của Huy Cận. Nhưng tuyệt nhiên không thể xác định được nó là con sông nào, ở đâu. Bởi con sông ấy ta có thể bắt gặp ở bất cứ đâu trên đất nước Việt Nam này, đó là con sông quê hương, con sông thương nhớ. Nhan đề bài thơ là Tràng giang, tức những con sông dài, sông lớn, như vậy không gian mênh mông sông nước chính là nơi khơi nguồn cảm hứng thi ca trong lòng Huy Cận.

Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên trong Tràng giang là tuyệt tác, đượm buồn và thấm đẫm nỗi cô đơn. Mở đầu bài thơ là bức tranh thiên nhiên mang những nét cổ điển đặc trưng:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng

Khung cảnh mênh mông trời nước nối tiếp nhau mở ra, những con sóng nhỏ lăn tăn nối tiếp xô vào bờ, không gian mở được mở rộng với từ láy “điệp điệp”. Trên mặt sông rộng mênh mông ấy con thuyền xuất hiện thật nhỏ bé, đơn độc, kết hợp với những cành củi khô trôi lặng lờ giữa dòng sông, khiến cho khung cảnh thiên nhiên lại càng trở nên buồn bã, đìu hiu hơn.

Sang đến khổ thơ thứ hai, điểm nhìn của Huy Cận đã có sự dịch chuyển, thi sĩ hướng mắt ra xa hơn và trước mắt ông là “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu/ Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều/ Nắng xuống trời lên sâu chót vót/ Sông dài trời rộng bến cô liêu”. Vẫn là sông nước đấy thôi, nhưng tâm hồn thi sĩ đang cố gắng tìm kiếm trong không gian ảm đạm kia một chút hơi thở của sự sống ở nơi cồn nhỏ, ở tiếng chợ xa xa. Nhưng vẳng lại chỉ là sự nín thinh của vạn vật. Khổ thơ sử dụng hàng loạt các từ chỉ cái bé nhỏ: lơ thơ, cồn nhỏ kết hợp với các từ đìu hiu, cô liêu gợi nên hồn cốt sự vật đã làm nổi bật bức tranh phong cảnh buồn bã. Đọc câu thơ ta bất giác nhớ đến Chinh phụ ngâm:

“Non kì quạnh quẽ trăng treo
Bến thì gió thổi đìu hiu mấy gò”.

Tuy thời thế thay đổi, tuy cách nhau cả trăm năm, nhưng cảnh ấy, tình này vẫn chẳng hề đổi thay. Vẫn là sự hiu quạnh, vắng vẻ đến nao lòng của tạo vật. Thiên nhiên đó còn có sự tĩnh lặng đến tuyệt đối, âm thanh chợ xa hư thực thực hư khó lòng có thể xác định nổi. Nếu âm thanh đó là thực thì có lẽ không gian đã phải yên ắng biết chừng nào, con người mới có thể nghe được như vậy. Rời tầm mắt, Huy Cận di chuyển lên cao, trời đất mênh mông, “sâu chót vót” càng khiến con người cô đơn, lạc lõng hơn. Bức tranh thiên nhiên mở rộng cả ba chiều: chiều rộng, chiều cao và chiều sâu đến vô cùng. Những sự vật vận động trái chiều nhau nắng xuống trời lên khiến không gian càng được mở rộng hơn nữa. Sử dụng từ “sâu chót vót” là một từ rất lạ, không phải là cao mà là sâu đã nhấn mạnh cái sâu không cùng của cảnh vật, màu xanh ngút ngàn của bầu trời khiến có cái gì đó rờn rợn ở trong lòng.

Bức tranh cô đơn, hiu quạnh tiếp tục được bổ sung ở khổ thơ thứ ba:

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Những cánh bèo lặng lờ trôi trên dòng sông mênh mông rộng lớn, với những bờ xanh lặng lẽ tiếp bãi vàng. Sự quạnh hiu qua mỗi khổ thơ lại càng rõ nét hơn. Đây không chỉ đơn thuần là sự cô quạnh của khung cảnh mà nó còn là sự cô đơn trong chính tâm hồn người thi sĩ. Nguyễn Du đã từng đúc kết: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” cũng chính là vì lẽ đó. Cái nhìn của tâm trạng đã ảnh hưởng, đã thấm dần sang cảnh vật, khiến cho mọi vật trở nên ảm đạm, cô đơn như chính thân phận của người thi sĩ. Không gian thiên nhiên đó chính là không gian tâm trạng của nhân vật trữ tình.

Khổ thơ cuối bài thơ đã mở ra một bức tranh khác, hùng vĩ, tráng lệ:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa

Các lớp mây chồng xếp lên nhau thành từng tầng, từng bậc, đùn lên thành những núi mây bạc trắng xóa. Hòa cùng cái ráng chiều đỏ của hoàng hôn làm cho bức tranh diễm lệ, kì vĩ hơn bao giờ hết. Tương phản với sự hùng vĩ của thiên nhiên là cánh chim cô đơn, bé nhỏ đến đáng thương, tội nghiệp. Nhìn khung cảnh ấy lòng ông cũng không thôi nhớ về quê nhà: “Lòng quê dợn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.

Bức tranh thiên nhiên trong thơ Huy Cận đẹp mà thấm đẫm nỗi buồn, đó là nỗi buồn thê lương khắc khoải. Dù cuối bức tranh ấy có xuất hiện sự kì vĩ, mĩ lệ, nhưng chỉ là trong thoáng chốc, ngưng đọng ở bài thơ vẫn là nỗi cô đơn, lạc lõng thấm đầy trong từng cảnh vật.

Bài thơ Tràng giang là một bức tranh thiên nhiên đẹp đẽ, xinh xắn mà cũng thật độc đáo trong thơ ca Việt Nam. Đằng sau bức tranh ấy là nỗi nhớ quê hương khắc khoải, là tình yêu nước sâu đậm mà kín đáo của Huy Cận dành cho non sông, đất nước.

Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng Giang – Mẫu 5

Thiên nhiên là đề tài muôn thuở của thi ca, là cảm hứng sáng tác của rất nhiều nhà thơ. Mỗi tác giả lại có một cái nhìn riêng, một phương thức khác biệt để tái hiện cảnh thiên nhiên. Nếu như thiên nhiên trong thơ Xuân Diệu gây ấn tượng với vẻ đẹp mơn mởn tràn đầy sức sống thì thiên nhiên trong thơ Huy Cận lại gợi lên nhiều nghĩ suy bởi vẻ đẹp buồn man mác. Điều này được thể hiện vô cùng rõ nét qua bức tranh nhiên nhiên trong bài thơ “Tràng giang”. Thiên nhiên “Tràng giang” dưới ngòi bút Huy Cận hiện lên với vẻ đẹp cổ điển xen lẫn hiện đại, đẹp mà quạnh vắng cô liêu, bâng khuâng nỗi sầu.

Gợi mở bức tranh thiên nhiên là lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. 7 chữ ngắn gọn vừa diễn tả cảm hứng, hoàn cảnh sáng tác của bài thơ vừa dẫn dắt độc giả bước vào không gian thiên nhiên rộng lớn mang tầm vóc vũ trụ. Từ đó, hé mở dòng cảm xúc với nỗi nhớ bâng khuâng, sự lạc lõng, hoang mang giữa cảnh thiên nhiên rộng lớn, vô tận của một hồn thơ nhạy cảm, lẻ loi:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Vẫn sử dụng những thi liệu và bút pháp nghệ thuật quen thuộc song Huy Cận lại vẽ lên một bức tranh thiên nhiên vô cùng ấn tượng. Giữa dòng sông rộng lớn mênh mang, vô tận, từng con sóng gợn lăn tăn, gối đầu lên nhau “điệp điệp” như không dứt. Dòng nước lững lờ trôi đi, chậm chạp mà hờ hững, vô định. Xuôi theo nó là con thuyền nhỏ bé lênh đênh “xuôi mái song song” không phương hướng dường như phó mặc theo ý muốn của đất trời.

Thuyền và nước vốn song song đồng hành với nhau, đến đây lại cách xa đầy buồn tủi. Hình ảnh “thuyền về nước lại” gợi cảm giác xót xa chia lìa, mang theo hơi thở của nỗi sầu thương vây bủa. Kết hợp cùng hình ảnh “củi một cành khô lạc mấy dòng”, khung cảnh thiên nhiên vốn buồn man mác bỗng trở nên càng ưu sầu. Cành củi khô nhỏ bé nổi trôi, vô định, lẻ loi gấp nhiều lần khi chỉ có một mình giữa những dòng chảy mênh mông, cuộn xoáy. Nó dường nhiều mất đi sức sống, mất đi toàn bộ vẻ tươi xanh, nhỏ nhoi giữa không gian sông nước bao la càng khắc sâu thêm nỗi cô đơn trống vắng trong lòng người. Đồng thời, đây là hình ảnh ẩn dụ hiện đại, tượng trưng cho bao kiếp người nhỏ bé thời đại bấy giờ, nhỏ bé, cô đơn, lẻ loi trôi dạt giữa dòng sông cuộc đời bao la không tìm thấy bến bờ.

Dòng xúc cảm lặng lẽ chảy trôi, ngòi bút tài hoa của Huy Cận tiếp tục đặc tả cảnh thiên nhiên hoang vắng đến nao lòng:

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”

Hai từ láy “lơ thơ”, “đìu hiu” được sử dụng khéo léo cùng biện pháp tu từ nhân hóa đã nhấn mạnh tâm trạng buồn thương của con người. Vẫn là sông nước mênh mông, vẫn là không gian bao la rộng lớn, vậy mà chỉ thưa thớt vài cồn cát, hắt hiu vài ngọn gió lạ. Ngay cả âm thanh của cuộc sống “tiếng làng xa vãn chợ chiều” dường như cũng biến mất, không biết “đâu”. Thi sĩ càng cố chạm tay vào hơi thở mong manh của cuộc sống càng thấy lòng mình thêm bâng khuâng, cô độc giữa cảnh thiên nhiên vốn bao la, nay càng mênh mang vô định bởi “nắng xuống, trời lên”.

Hình ảnh “Trời rộng sông dài” ở lời đề từ đến đây đã được đổi ngược lại thành tiểu đối “Sông dài trời rộng. Kết hợp với cụm từ “bến cô liêu”, nó khiến người đọc cảm nhận được tận cùng của thiên nhiên hoang vắng và nỗi cô đơn của con người.

Chưa dừng lại ở đó, bức tranh thiên nhiên buồn bã, hiu quạnh vẫn tiếp tục được chấm phá thêm ở khổ thơ tiếp theo:

“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”

Trên dòng tràng giang mênh mang sóng nước, một chuyến đò ngang cũng chưa từng xuất hiện, có chăng chỉ là vài cánh bèo lặng lờ trôi. Sự quạnh hiu đến đây đã thấm đượm qua từng cảnh vật. Nó không chỉ là sự hoang vắng của thiên nhiên mà còn là sự cô đơn toát lên từ chính tâm hồn thi sĩ giống như câu thơ “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Nguyễn Du). Những từ láy “mênh mông”, “lặng lẽ” kết hợp cùng điệp từ “không” và cụm từ “không một chuyến đò”, “không cầu” đã đẩy sự hoang vắng lên đến cực điểm, đưa độc giả đến tận cùng nỗi cô đơn, lạc lõng. Để rồi chỉ có “Bờ xanh tiếp bãi vàng” mênh mông đến hút tầm mắt.

Nét vẽ cuối cùng cho bức tranh ấy là khung cảnh hùng vĩ, bao la cùng nỗi sầu nhân thế bâng khuâng:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”

Mây trắng chuyển động thành từng lớp. Cánh chim nhỏ nhoi chao nghiêng bay về sau một ngày mệt nhọc. Trong bóng hoàng hôn, những hình ảnh ấy tạo nên một khung cảnh buồn vương vấn. Không gian rộng mở rợn ngợp còn nỗi buồn thì dằng dặc, bất tận. Nhà thơ chợt nhớ về quê hương, nhớ về cả thời đại. Đây chính là nỗi lòng của cả thế hệ trí thức lúc ấy trước thời cuộc rối ren.

Có thể nói, chỉ với 4 khổ thơ 7 chữ ngắn gọn nhưng bằng những nét bút tinh tế, khéo léo cùng bút pháp chấm phá đặc sắc, sự kết hợp hài hòa giữa hiện đại và cổ điển, Huy Cận đã vẽ lên trước mắt độc giả một bức tranh thiên nhiên vô cùng rung động: mênh mông vô tận và man mác nỗi buồn. Khung cảnh ấy không những thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước tha thiết của nhà thơ mà còn gửi gắm nỗi niềm tâm sự của cả thế hệ trí thức trong hoàn cảnh đất nước nhiều biến động.

Với những ý nghĩa đó, “Tràng giang” được đánh giá là bài thơ tiêu biểu cho phong cách Huy Cận. Nỗi “buồn” vô tận kết hợp với nỗi ám ảnh không gian lạ lùng đã ghi dấu ấn mạnh mẽ cho hồn thơ Huy Cận trong phong trào thơ Mới 1932-1945 nói riêng và văn học Việt Nam nói chung. Từ đó đóng góp cho nước nhà một tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời, đáng nâng niu, giữ gìn.

Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng Giang – Mẫu 6

Thiên nhiên là đề tài muôn thuở gợi cảm hứng sáng tác thơ ca cho các thi nhân, cũng giống như bao nhà thơ trung đại hay các nhà thơ mới khác Huy Cận cũng tả cảnh thiên nhiên nhưng đó không phải là thiên nhiên giàu sức sống, mơn mởn như trong “Vội vàng” của Xuân Diệu mà trong bài thơ “Tràng giang” đó là khung cảnh bao la, rộng lớn của sông nước mây trời. Bức tranh đó tuy đẹp mà buồn quạnh vắng, cô liêu. Bức tranh vừa mang nét đẹp cổ điển và hiện đại ẩn đằng sau đó là nỗi buồn sâu thẳm và tình yêu quê hương đất nước thầm kín của thi sĩ Huy Cận.

Ngay trong nhan đề “Tràng giang” đã gợi ra cảnh sông nước mênh mông, khi nhà thơ đứng trên bến Chèm sông Hồng quan sát cảnh vật xung quanh mà sáng tác, dù đó là một con sông cụ thể có tên gọi nhưng thi sĩ dùng cách nói khác để gợi ra hình ảnh dòng sông trải dài đến vô tận. Lời đề từ thể hiện cảm xúc chủ đạo của tác phẩm là nỗi buồn, nỗi nhớ xuyên suốt toàn bài của thi sĩ cô đơn trước cảnh “trời rộng nhớ sông dài”.

Trước tiên ta thấy thiên nhiên ở đây mang dáng dấp cổ kính trong thơ Đường. Thi sĩ cũng tả cảnh sông nước, mây trời có sử dụng các hình ảnh thuyền, bèo, cánh chim…đó đều là các thi liệu trong thơ ca cổ được các nhà thơ trung đại dùng để miêu tả cảnh chiều tà với nỗi buồn nỗi nhớ quê hương của những người khách lứ thứ xa quê.

Nhưng thiên nhiên ấy cũng mang đậm chất chất dân tộc rất gần gũi với cuộc sống người dân Việt. Dù thi sĩ miêu tả cảnh sông nước của con sông Hồng cụ thể nhưng lại không gọi tên mà chỉ tả cảnh vật để cho ta thấy đó là bất kì con sông nào của đất Việt đều hiện lên rất quen thuộc của dòng sông sóng gợn, thuyền xuôi mái chèo hay bèo dạt trên sông và tiếng chợ chiều xa xa… Tuy nhiên thiên nhiên trong bài thơ cũng mang những dấu ấn đặc sắc riêng biệt bởi hình ảnh: “Bèo dạt về đâu hàng nối hàng” nó không phải là từng cánh bèo, khóm bèo mà là hàng nối hàng đang bị trôi dạt bởi dòng nước rất nhiều. Thiên nhiên trong cái nhìn của thi nhân thật khác biệt vừa có nét cổ kính trang nhã trong thơ xưa, vừa hiện đại mang đậm phong vị dân tộc.

Không gian trong bức tranh thiên nhiên là sự mênh mông, bao la đến rợn ngợp của “Nắng xuống trời lên sâu chót vót/ Sông dài trời rộng bến cô liêu”. Nắng với trời sẽ chẳng thể tách rời ấy vậy mà “Nắng xuống, trời lên” tạo nên một khoảng cách sâu chót vót. Người ta nói cao chót vót còn với thi nhân nó lại là sâu bởi nắng càng xuống khuất bóng nhường hoàng hôn thì trời càng cao tạo nên độ sâu thăm thẳm. Dường như nhà thơ đang đứng từ dưới nhìn lên nên mới có thể cảm nhận được điều đó. Trải rộng ra là “Mênh mông không một chuyến đò ngang/ Không cầu gợi chút niềm thân mật”. Thi nhân muốn có gì đó để bấu víu lấy cảm xúc cho đỡ trơ trọi nhưng đổi lại chỉ là một chữ không được điệp lại hai lần ở câu trên và câu dưới chỉ còn biết lặng lẽ với bờ xanh tiếp bãi vàng. Mọi thứ trở nên tĩnh lặng vô cùng, dường như sự sống ở đây chỉ có một mình nhà thơ với cảnh vật đẹp mà cô liêu, ảm đạm.

Giữa không gian mênh mông, vời vợi ấy các sự vật hiện lên với sự nhỏ bé, cô đơn, lạc lõng. Đó là hình ảnh “Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Thiên nhiên không có sức sống nó chỉ là một cành củi khô từ rừng sâu xa thẳm lạc giữa chốn sông nước. Cách sử dụng nghệ thuật đảo ngữ thật độc đáo nhấn mạnh đặc điểm đối tượng. Câu thơ khiến cho ta nhớ tới hình ảnh chiếc bách trong thơ Hồ Xuân Hương “Chiếc bách buồn vì thân phận nổi nênh/ Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh” gợi đến tâm trạng cô đơn trước thiên nhiên và cuộc đời của tác giả. Đó là cánh chim nghiêng trong bóng chiều xa giữa khung nền “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc”. Chim nghiêng cánh nhỏ kéo bóng chiều cùng sà xuống mặt nước tràng giang hay bóng chiều đè nặng lên cánh chim khiến nó phải chao nghiêng đôi cánh. Cánh chim nhỏ dưới bóng chiều buông xuống mang nặng tư tưởng tác giả, ẩn dụ cho những kiếp người nhỏ bé bị bão táp cuộc đời xô đẩy, ngả nghiêng ẩn dụ cho cái tôi cá nhân phiền não của thi nhân trải nỗi buồn ra khắp không gian.

Sự chuyển động của cảnh vật cũng rất nhẹ nhàng như có như không của “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp” hay gió đìu hiu thổi trên cồn cỏ. Sóng gợn nhẹ trên mặt nước ta đã từng bắt gặp trong câu thơ Nguyễn Khuyến “Sóng biếc theo làn hơi gợn tí” thật bình lặng với nghệ thuật lấy động tả tĩnh. Cùng với đó là “Con thuyền xuôi mái nước song song/ Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”. Hai sự vật thuyền và nước đi liền với nhau nhưng trong cái nhìn của thi nhân dường như có sự tan tác, li biệt. Chi tiết “xuôi mái” cho thấy sự phó mặc, buông xuôi. Thuyền và nước thường phải có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau nhưng ở đây ta thấy nó như rời rạc, tách nhau ra bởi “thuyền xuôi” còn “mái nước song song”, thuyền và nước lại ngược hướng với nhau “thuyền về nước lại” tạo ra sự ngăn cách. Nỗi sầu của nước tan chảy ra trăm ngả trên sông. Nỗi sầu ấy cũng là nỗi sầu nhân thế của thi nhân mang tâm trạng chán nản, buồn tủi. Hình ảnh con thuyền bơ vơ, cô độc là một thi liệu quen thuộc đã từng xuất hiện trong thơ xưa như: “Cô phàm viễn ảnh bích không tận/ Duy kiến trường giang thiên tế lưu” (Bóng buồm đã khuất bầu không/ Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời).

Ẩn đằng sau bức tranh thiên nhiên đẹp mà buồn ấy là tâm trạng của thi nhân “Lòng quê dợn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” được gợi từ hai câu thơ trong bài “Lầu Hoàng Hạc” của Thôi Hiệu: “Nhật mộ hương quan hà xứ thị/ Yên ba giang thượng sử nhân sầu” (Quê hương khuất bóng hoàng hôn/ Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai” nếu tiền nhân đời Đường bên Trung Hoa nhìn khói sóng trên sông mà nhớ quê hương thì Huy Cận thật sáng tạo khi “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Đó còn là nỗi buồn của tầng lớp trí thức lúc bấy giờ khi đứng trước hoàn cảnh nước mất nhà tan của dân tộc cho thấy tình yêu quê hương đất nước thầm kín được thể hiện trong thơ Huy Cận.

Với những nét đặc sắc nghệ thuật vừa cổ điển vừa hiện đại trong lối thơ bảy chữ niêm luật chặt chẽ như thơ Đường, dồi dào nhạc điệu đã khiến cho bức tranh thiên nhiên trong bài thơ “Tràng giang” hiện lên thật đẹp mà buồn ảm đạm mang nặng tư tưởng của tác giả.

Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng Giang – Mẫu 7

Bài thơ Tràng giang in trong tập Lửa thiêng là bài thơ hay nhất của Huy Cận và cũng là trường hợp tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ ông trước Cách mạng. Bức tranh thiên nhiên trong Tràng giang đã kết tụ nỗi buồn “mang mang thiên cổ” ở Huy Cận, được diễn đạt bằng hình thức thơ trang trọng, cổ kính, đậm đà phong vị Đường thi mà vẫn giản dị, mới lạ, độc đáo, mang rõ dấu ấn thời đại của Thơ mới.

Ngay ở nhan đề, Tràng giang đã cho ta biết cảm hứng của bài thơ là cảm hứng từ một không gian. Thật thế, chính tác giả đã thổ’ lộ: “Nhìn dòng sông lớn gợi những lớp sóng, tôi cảm thấy nỗi buồn của mình cũng đang trải ra những lớp sóng”. Tràng giang là sông dài, “trường” cũng là dài nhưng “tràng” có âm “ang” là âm mở rộng, gợi được cả dài lẫn rộng. Hơn nữa Tràng giang láy âm cuối “ang” càng khơi gợi cảm giác mênh mang, bát ngát của dòng sông lớn.

Tiếp theo, câu đề càng thổ hiện đầy đủ tình, cảnh gợi tứ cho bài thơ. Tình là bâng khuâng, nhớ cảnh là trời rộng, sông dài. Bài thơ mở ra trước tầm mắt ta bức tranh bao la, rộng lớn của cảnh trời nước mênh mang. Không gian ở đây thật vô định. Nó được trải ra ở cả ba chiều: chiều dài, chiều rộng, chiều cao, với những hình ảnh phong phú: tràng giang, trăm ngả, mấy dòng, sâu chót vót, sông dài, trời rộng, mây cao, núi bạc… Tất cả bầu trời, mặt đất đều là vô tận, không cùng của vũ trụ. Huy Cận sử dụng nghệ thuật đối lập rất tự nhiên bởi ông đã đặt vào giữa cái không gian bất tận mênh mông ấy những hiện thực của cuộc sống không thế thiếu vắng. Đó là những sự vật cụ thể, nhỏ nhoi, đơn chiếc, con thuyền xuôi mái, củi một cành khô, cồn nhỏ lơ thơ, chim nghiêng cánh nhỏ… nhưng càng làm tăng thêm cái cao rộng của bầu trời, mặt đất. Cái hữu hạn thì vô nghĩa, vô hướng, nhỏ bé, nhạt nhòa, không đáng kể nhưng đã làm nổi bật cái vô hạn không cùng.

Tràng giang không chỉ là bức tranh phong cảnh đẹp với những đường nét, hình khối, trái lại, đây còn là một bức tranh tuyệt đẹp mang nét buồn mênh mang, quạnh vắng, cô liêu. “Thơ mới” đã đem đến cho người đọc những bức tranh thiên nhiên rạng rỡ nhiều thanh sắc. Thiên nhiên trong Tràng giang cũng có vẻ đẹp riêng của nó. Đó là vẻ đẹp nên thơ của những con sóng điệp điệp đuổi nhau trên mặt nước, của cồn nhỏ lơ thơ, của bờ xanh tiếp bãi vàng chạy dài tít tắp. Đó là vẻ đẹp hùng vĩ của cảnh nắng xuống trời lên sâu chót vót, của cảnh sông dài trời rộng, của mây cao, núi bạc…

Cái đẹp thường gắn với nỗi buồn, đó là cảm quan nghệ thuật của các nhà thơ lãng mạn. Ớ Tràng giang cũng vậy, thiên nhiên trong Tràng giang thật đẹp mà cũng thật buồn. Nỗi buồn cũng bao la mà hiu quạnh. Nhà thơ đã đem nỗi lòng mình và tâm trạng của một thế hệ nhà thơ mới phủ lên cảnh vật. Thôi thì đủ các cung bậc: buồn điệp điệp, sầu trăm ngả, bên cô liêu, bờ sông lặng lẽ như thời tiền sử, lòng quê dạn dợn… đặc biệt bức tranh thiên nhiên ở đây không hề có lây một dấu hiệu của con người, giao cảm, gặp gỡ… bởi đã được phủ định: không dò, không cầu, không khói… quạnh vắng, thê lương.

Ngoài ra, bài thơ Tràng giang còn là một bức tranh thiên nhiên mang màu sắc cổ điển mà hiện đại.

Cả bài Tràng giang mang tính chất trang nghiêm, cổ kính, đậm đà phong vị Đường thi, nhưng cũng rất mới mẻ, hiện đại. Chất cố điển hiện ở cảm xúc của bài thơ (con người một mình đối diện với vũ trụ để cảm nhận cái vĩnh viễn vô cùng của không gian, thời gian, để nghĩ về kiếp người), cổ điển trong việc học tập Chinh phụ ngâm, cổ điển có nhạc diệu và tứ thơ Đỗ Phủ (trong bài Đãng cao), cổ điển ở việc lấy ý thơ của Thôi Hiệu (trong Hoàng Hạc lâu)… Nhưng đồng thời cảnh vật trong bài thơ cũng hết sức cụ thể, đời thường (cành củi khô, cồn cát, cánh bèo… ). Hơn nữa, đây còn là một bức tranh đậm đà phong vị Việt Nam. Tràng giang, cái tên gợi nhớ đến dòng Trường giang ngàn dặm ở Trung Quốc từng là nguồn cảm hứng cho bao thế hệ thi nhân. Tứ thơ Thôi Hiệu ở cuối bài Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà lại càng tăng thêm không khí Đường thi của bài thơ. Tuy thế, bức tranh thiên nhiên ở đây lại rất Việt Nam. Một dòng sông, một cành củi trôi, một cồn cát nhỏ, một chợ chiều ở một làng xa, những cánh bèo trên mặt nước, cánh chim chao liệng trên nền mây bạc lúc hoàng hôn đều là những cảnh quê hương đất nước, gần gũi, thân thuộc với mỗi con người Việt Nam.

Nói tóm lại, bài thơ Tràng giang toát lên một nỗi buồn mênh mang, thấm vào linh hồn cảnh sắc quê hương, gợi tình mến yêu quê hương một cách sâu lắng. Xuân Diệu nhận xét: “Tràng giang, là một bài thơ ca ngợi non sông đất nước, do đó, dọn đường cho tình yêu giang sơn Tổ quốc”.

Xem thêm: Phèn nhôm là gì? Công thức và các loại phèn nhôm sunfat

 

Hy vọng với bài viết trên đây về chủ đề phân tích và cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang, bạn đã có thêm những kiến thức hữu ích phục vụ cho quá trình học tập. Chúc bạn luôn học tốt!

Source: https://camnangbep.com
Category: Học tập

DaiLyWiki cũng giúp giải đáp những vấn đề sau đây:

  • Dàn ý bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng giang
  • Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng giang
  • Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Từ ấy
  • Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Cảnh ngày hè
  • Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ cảnh ngày hè gợi ra điều gì
  • Về tranh Tràng giang
  • Qua bài thơ Tràng giang”, tác giả muốn gửi gắm điều gì
  • Chuyến đò ngang và cây cầu là phương tiện có ý nghĩa

Xem thêm về bài viết

Cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang của Huy Cận (7 mẫu)

Phân tích và cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang trong thơ của Huy Cận để thấy đây là một bức họa đẹp mà buồn. Tác phẩm được kiến tạo bởi tâm hồn nhạy cảm của thi nhân cùng với tình yêu đất nước và thiên nhiên sâu đậm. Trong bài viết dưới đây, hãy cùng DaiLyWiki tìm hiểu, phân tích và cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang.
DaiLyWiki cũng giúp giải đáp những vấn đề sau đây:
Dàn ý bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng giang
Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng giang
Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Từ ấy
Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Cảnh ngày hè
Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ cảnh ngày hè gợi ra điều gì
Về tranh Tràng giang
Qua bài thơ Tràng giang”, tác giả muốn gửi gắm điều gì
Chuyến đò ngang và cây cầu là phương tiện có ý nghĩa

Mở bài cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang

“ Của ong bướm này đây tuần tháng mậtNày đây hoa của đồng nội xanh lè
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Bạn đang đọc: Cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang của Huy Cận
Của yến anh này đây khúc tình si ”

( Vội vàng – Xuân Diệu )
Những câu thơ trên là khúc hát say sưa yêu đời trước vẻ đẹp cuộc sống trần thế của Xuân Diệu. Cũng viết về thiên nhiên, nhưng Huy Cận lại mang đến một màu sắc khác. Không phải là những nốt nhạc tươi vui giục giã con người sống gấp để tận hưởng hương sắc của cuộc đời, mà đó là những nốt nhạc buồn du dương trước khung cảnh rộng lớn của thiên nhiên. Một nỗi buồn nhẹ nhàng man mác khắp cả đất trời – một nỗi buồn vạn kỷ rất riêng của Huy Cận. Qua bức tranh thiên nhiên Tràng giang, Huy Cận cũng đã giãi bày cả nỗi lòng mình.
Tìm hiểu về tác giả Huy Cận và bài thơ Tràng giang
Trước khi nghiên cứu và phân tích bức tranh thiên nhiên Tràng giang của Huy Cận, người đọc cần nắm được những nét chính về tác giả cũng như tác phẩm .
Đôi nét về nhà thơ Huy Cận
Huy Cận ( sinh năm 1919 – mất năm 2005 ) tên khai sinh là Cù Huy Cận, quê ở thành phố Hà Tĩnh. Thuở nhỏ, ông học ở quê rồi vào Huế học hết trung học. Năm 1939, ông ra TP. Hà Nội học trường cao đẳng Canh nông. Từ năm 1942, Huy Cận tích cực hoạt động giải trí trong mặt trận Việt Minh .Ông tham gia Quốc dân đại hội Tân Trào, được bầu vào Ủy ban dân tộc bản địa giải phóng toàn nước. Sau Cách mạng tháng Tám, ông liên tục tham gia chính quyền sở tại cách mạng và giữ nhiều trách nhiệm khác nhau. Năm 1996, ông được Nhà nước trao tặng phần thưởng Hồ Chí Minh về văn học thẩm mỹ và nghệ thuật .Trong nghành nghề dịch vụ văn học, Huy Cận đã có nhiều góp phần cho nền văn học nước nhà và là một trong những khuôn mặt tiêu biểu vượt trội của trào lưu thơ mới. Huy Cận yêu thích thơ Đường nhưng đồng thời cũng chịu nhiều tác động ảnh hưởng của văn học Pháp. Vì thế trong thơ của Huy Cận, ta vừa phát hiện những nét lãng mạn đậm chất phương tây lại vừa phát hiện vương vấn trong mỗi vần thơ phong vị Đường thi .Sáng tác của Huy Cận hoàn toàn có thể chia ra làm hai tiến trình trước và sau cách mạng tháng tám. Dù ở quá trình nào, Huy Cận cũng đạt được nhiều thành tựu. Trước cách mạng Tháng tám, hoàn toàn có thể nhắc đến tập thơ Lửa thiêng ( 1937 – 1940 ), văn xuôi Kinh cầu tự ( 1942 ), tập thơ Vũ trụ ca ( 1940 – 1942 ). Sau cách mạng Tháng tám, ông có bút lực dồi dào hơn và có nhiều thay đổi .Huy Cận tìm thấy sự hòa điệu giữa con người và xã hội. Điều đó được bộc lộ trong những tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng ( 1958 ), Đất nở hoa ( 1960 ), Bài thơ cuộc sống ( 1963 ), Những năm sáu mươi ( 1968 ) …
Tìm hiểu về bài thơ Tràng giang
Bài thơ Tràng giang được trích từ tập thơ Lửa thiêng. Vào năm 1939, một buổi chiều thu, ông đứng ở bờ nam bến Chèm. Khi nhìn thấy dòng chảy của sông Hồng, ông tâm lý về cuộc sống và sáng tác nên bài thơ này. Khung cảnh sông nước hữu tình cộng hưởng với tâm hồn đa cảm của nhà thơ đã gợi tứ cho “ Tràng Giang ”. Và tiêu đề của bài thơ đã là một điều gì rất đẹp nhưng buồn. Phân tích thiên nhiên Tràng giang, ta thấy đó là nỗi niềm của một cái tôi đơn độc lạc lõng giữa dòng chảy của cuộc sống được bộc lộ rõ nét qua khung cảnh thiên nhiên .
Cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang của Huy Cận
Từ muôn đời nay, thiên nhiên vẫn luôn là người bạn tri âm tri kỷ của hồn mộng thi sĩ. Thiên nhiên gắn bó, đồng cảm và sẻ chia với thi nhân mọi xúc cảm cũng như nỗi lòng. Nếu như hoa lá cỏ cây mê hồn và rạo rực cùng tâm hồn sôi sục Vội vàng của Xuân Diệu, trăng và đêm chao đảo điên cuồng cùng nỗi đau của Hàn Mặc Tử … và sông trời mây nước trong thiên hà này sầu “ ảo não ” với nỗi buồn “ vạn kỷ ” của tâm hồn Huy Cận. Bức tranh thiên nhiên Tràng giang rất đẹp, sinh động nhưng cũng thấm đượm nỗi buồn tủi đơn độc của người nghệ sĩ .
Sự bao la rợn ngợp của sông nước
Bài thơ mở ra một bức tranh thiên nhiên Tràng giang rất đẹp, bàng bạc một nét đẹp cổ xưa. Vẫn là đề tài quen thuộc ấy, từ những thi liệu và bút pháp thẩm mỹ và nghệ thuật vốn có trong thơ cổ, nhà thơ của Lửa thiêng đã vẽ nên trên nền trời mây, sông nước bát ngát vô cùng, vô tận những sự vật nhỏ bé, đặc trưng .Trong quy trình nghiên cứu và phân tích bức tranh thiên nhiên Tràng giang, có lẽ rằng điều khiến người đọc ấn tượng hơn cả là những hình ảnh như sóng gợn, thuyền trôi, gió vắng ngắt, bến cô liêu, bèo dạt, mây cao, núi bạc, chim nghiêng … gợi nên cái hồn thiên nhiên của thơ ca từ bao đời này. Có lẽ, nếu cứ nhìn người ta vẫn ngỡ đó là khoảng trống của cảnh đẹp tiêu sơ và tĩnh mịch vốn thấy trong thơ Đường. Thế nhưng, bức tranh thiên nhiên Tràng giang hiện ra trước hết là khung cảnh rợn ngợp bát ngát của đất trời .

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song”

Mở đầu bài thơ là hình ảnh những con sóng tiếp nối đuôi nhau, tiếp nối đuôi nhau nhau đến tận chân trời. Sự lê dài của những cơn sóng như bất tận tạo cảm xúc có vẻ như khoảng trống cũng được lan rộng ra ra. Từ “ gợn ” được tác giả dùng thật khéo không chỉ gợi được sự hoạt động của sóng nước mà còn gợi được một cảm xúc mơ hồ, nhẹ nhàng nhưng day dứt xao xuyến mãi không nguôi như những cơn sóng vẫn miệt mài ngày đêm xô vào bờ. Từ “ gợn ” ấy ta cũng từng phát hiện trong ca dao

“Chiều chiều bước xuống ghe buôn
Sóng bao nhiêu gợn dạ em buồn bấy nhiêu”

(Ca dao)
Con sóng của đại dương hay chính là con sóng của tâm hồn đang xao xuyến ? Cảm giác mơ hồ ấy ngày càng can đảm và mạnh mẽ hơn để rồi bộc bạch trực tiếp thành một nỗi niềm “ buồn điệp điệp ”. Từ láy “ điệp điệp ” thường được dùng để diễn tả cảnh núi non hùng vĩ hay khung cảnh hùng tráng trong Việt Bắc .

“Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”

(Việt Bắc – Tố Hữu)
Còn trong câu thơ của Huy Cận, bức tranh thiên nhiên Tràng giang với “ điệp điệp ” lại được dùng để chỉ nỗi buồn. Nỗi buồn vốn là một trạng thái xúc cảm vô hình dung chỉ hoàn toàn có thể cảm thấy nhưng trong phối hợp này nỗi buồn ấy lại có hình có khối. Nỗi buồn ấy theo con nước mà tràn trề. Đứng trước khung cảnh rợn ngợp của thiên nhiên ấy mấy ai mà không thấy buồn mấy ai mà không thấy mình nhỏ bé bất lực .
Bởi lẽ đó mà “con thuyền xuôi mái”. Con thuyền dường như cũng thấy mình bất lực trước dòng chảy. Dù có cố gắng mấy nhưng cuối cùng con thuyền vẫn xuôi theo dòng nước không thể cưỡng lại được. Đó cũng là sự bất lực của con người trước dòng chảy của thời gian. Giữa sự chảy trôi tuyến tính của thời gian, sự xuất hiện của con người chỉ như mây khói thoáng qua.

Phân tích bức tranh thiên nhiên Tràng giang, ta thấy từ “ song song ” tự nhiên như vạch ra ranh giới giữa con thuyền và sóng nước gợi ra một cảm xúc về sự chia li. Ở hai dòng thơ đầu, nghệ thuật và thẩm mỹ đối của thơ Đường đã được vận dụng tinh xảo trong cách sử dụng từ láy. “ Điệp điệp ” so với “ song song ”. Không chỉ đối về mặt thanh điệu mà còn so với nhau về ý. Cả hai cùng gợi ra một khoảng trống to lớn chất chứa nỗi buồn nhân thế .
“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”

Thuyền và nước vốn gắn liền nhau nhưng trong khổ thơ đầu lại chia lìa nhau. Nếu ở câu thơ trên, thuyền và nước có vẻ như “ song song ” thì ở dòng thơ này thuyền và nước lại tách rời nhau mỗi nơi mỗi ngả. Sự chia li của cảnh vật hay cũng chính là sự chia li của lòng người .
Nghệ thuật tiểu đối “thuyền về nước lại” càng nhấn mạnh thêm nỗi niềm ấy. Nếu ở trên là “buồn điệp điệp” thì bây giờ lại là “sầu trăm ngả”. Ở trạng thái “sầu” ta bắt gặp một cảm xúc có phần mạnh mẽ, mãnh liệt và ám ảnh hơn “buồn”. Như trong câu thơ của Nguyễn Du “Sầu đông càng lắc càng đầy”.
Nỗi sầu ấy không chất chồng chất đống mà lan tỏa ra khắp “ trăm ngả ”. “ Trăm ” là một số lượng ước lệ chỉ số lượng nhiều. “ Trăm ngả ” không phải là hướng chảy của dòng nước mà là của nỗi sầu. Bức tranh thiên nhiên Tràng giang còn bộc lộ ở nỗi sầu theo con sóng xô dạt đến tận chân trời xa. Con sóng lòng bất tận ấy ta cũng từng phát hiện trong vần thơ nhẹ nhàng đằm thắm nhưng không kém phần da diết của Xuân Quỳnh .

“Dẫu xuôi về phương bắc
Dẫu ngược về phương nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh một phương”

(Sóng – Xuân Quỳnh)
Giữa khoảng trống to lớn bát ngát, không riêng gì có sự Open nhỏ bé của chiếc thuyền mà bức tranh thiên nhiên Tràng giang còn được điểm tô thêm bằng sự Open của cành củi khô .

“Củi một cành khô lạc mấy dòng”

Kết cấu đảo ngược đã nhấn mạnh vấn đề thêm sự Open của cành củi. Đây là một hình ảnh độc lạ. Khi nói về sự nhỏ bé của kiếp người, thi nhân thường dùng hình ảnh chiếc thuyền

“Chiếc bách buồn vì phận nổi nênh
Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh”

(Tự tình III – Hồ Xuân Hương)
Hay như tác giả dân gian so sánh với :

“Thân em như trái bần trôi
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu”

(Ca dao)
Nhưng Huy Cận lại thể hiện số phận nhỏ bé của con người qua hình ảnh cành củi. Bản thân hình ảnh cành củi đã gợi lên một sự nhỏ bé chỉ đành lênh đênh trôi nổi trên dòng nước không có bến bờ để neo đậu nhưng đó còn là một cành củi khô. Không chỉ cô đơn mà còn là một sự khô héo đến thiếu sức sống.
Xem thêm: Đồ án Máy ép thủy lực.
Lần tiên phong trong thơ văn Open hình ảnh cành củi khô tuy đơn sơ nhưng lại giàu sức gợi. Bức tranh thiên nhiên Tràng giang hiện lên với hình ảnh một cành củi khô đơn lẻ, cô quạnh bát ngát trên sóng nước cũng là hình ảnh con người bơ vơ đến tận cùng giữa vòng xoáy của cuộc sống. Đó cũng là tâm trạng của thi nhân khi đứng trước dòng sông to lớn bát ngát mà nghĩ về cuộc sống .
Bãi bờ quạnh vắng cô đơn
Sự đơn độc không chỉ Open ở nơi dòng sông to lớn bát ngát mà còn Open ở khung cảnh hai bên bờ sông .

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống trời lên sâu chót vót
Sông dài trời rộng bến cô liêu”

Bức tranh thiên nhiên Tràng giang hiện lên với cảnh vật phong phú và nhiều mẫu mã. Không gian cũng được lan rộng ra hơn. Từ khoảng trống hẹp của cồn nhỏ, chợ chiều đến khoảng trống to lớn của sông dài trời rộng. Tất cả ngơ như đầy sức sống nhưng sau cuối lại chìm trong sự tịch liêu. Từ láy “ lơ thơ ”, “ vắng ngắt ” gợi lên sự buồn bã quạnh vắng .Nghệ thuật tăng cấp càng khiến cho không gian tịch mịch hơn. Chợ đã tàn người cũng tàn vốn đã buồn chợ chiều nay càng buồn hơn. Âm thanh chợ tàn ấy vang vọng từ xa đến nơi đây. Từ “ đâu ” vang lên vừa như một âm thanh mơ hồ xa xôi vừa như một là tự hỏi âm thanh ấy từ đâu mà vang vọng lại .Dấu hiệu của đời sống Open nhưng không tương vui giòn giã, thúc giục như bản hòa ca của đời sống mà im vắng. Nghệ thuật tiểu đối lại một lần nữa phát huy hiệu quả trong phối hợp đặc biệt quan trọng “ nắng xuống trời lên ”. Nắng và trời bỗng chốc như tách rời nhau để lan rộng ra khoảng trống. “ Xuống ” và “ lên ” là hai khunh hướng ngược nhau đặt trong cùng vế đối khiến cho khoảng trống như được kéo dãn ra cùng với nỗi niềm của con người .Có phải vì lẽ đó mà khoảng trống trở nên “ sâu chót vót ”. Từ láy “ chót vót ” vốn được dùng để chỉ độ cao nhưng Huy Cận lại dùng từ láy này để gợi mở độ sâu. Phải chăng đây là một dụng ý nghệ thuật và thẩm mỹ của thi nhân. Cách phối hợp ấy đã khiến khoảng trống của bức tranh thiên nhiên Tràng giang như được đẩy ra hết mọi chiều kích của thiên hà. Càng rộng, càng sâu, càng cao thì cảnh vật càng thêm yên lặng. Nỗi buồn tựa hồ thấm đẫm trong cả khoảng trống .

“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”

Bức tranh thiên nhiên Tràng giang còn hiện lên với hình ảnh bèo được dùng để diễn đạt số phận con người bấp bênh vô định. Và Huy Cận cũng dùng hình ảnh cánh bèo trong thơ mình để một lần nữa nhấn mạnh vấn đề sự nhỏ bé bấp bênh của đời người. Bèo dạt không phải nương theo cơn sóng để sống sót là mặc cho cơn sóng xô đẩy. Không phải là một cánh bèo mà cả là một hàng. Hàng nối hàng tiếp nối đuôi nhau nhau nhưng đau lòng hơn đó không là đời sống của một kiếp người mà là của một bộ phận không nhỏ người trẻ tuổi trong thực trạng xã hội bế tắc đương thời .Từ láy bát ngát đứng đầu dòng thơ diễn đạt được sự to lớn bát ngát của khoảng trống. Điệp từ “ không ” Open liên tục trong hai dòng thơ gợi sự vắng vẻ đơn độc tuyệt đối. Thi nhân như phủ nhận mọi mối quan hệ, có vẻ như tự cô lập mình với cuộc sống xung quanh và cũng đồng thời phủ nhận mối link giữa người với người .Chính vì không có mối link nào mà con người đứng trước khoảng trống to lớn dễ rơi vào trạng thái đơn độc. Từ láy lặng lẽ đứng đầu câu càng tăng thêm sự lạng lẽ đến nao lòng của khoảng trống. “ Xanh ”, “ vàng ” là những gam màu tươi tắn. Sự Open này điểm tô thêm những gam màu tươi tắn cho bức tranh thiên nhiên nhưng không xua đi được nỗi cô đơn giá băng của lòng người .
Bóng chiều cùng nỗi nhớ quê
Tiếp đến là khung cảnh thiên nhiên Tràng giang ở hai bên bờ, tầm mắt của thiên nhiên lại hướng lên trên và cũng như phóng tầm nhìn ra xa hơn nơi chân trời để thấy

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”

Câu thơ khởi đầu bằng từ láy “ lớp lớp ” diễn đạt số lượng nhiều. Những đám mây như chất chồng chất đống vào nhau hết lớp này đến lớp khác. Huy Cận đã sử dụng tinh xảo động từ “ đùn ”. “ Đùn ” không chỉ miêu tả sự chồng chất của đối tượng người dùng mà còn miêu tả được sức sống như đang căng tràn xô đẩy nhau, gợi được vẻ đẹp trang trọng của thiên nhiên – núi mây khổng lồ được vạt nắng chiếu vào tạo thành hình ảnh núi bạc. Ta cũng từng phát hiện từ đùn ấy trong ý thơ của Nguyễn Trãi

“Hòe lục đùn đùn tán rợp giương”

(Cảnh ngày hè – Nguyễn Trãi)
Giữa đám mây bát ngát là cánh chim nhỏ bé trái chiều với khoảng trống to lớn. Thế nhưng, giữa hai đối tượng người dùng không có từ link như một khoảng chừng trống giữa câu thơ gợi cho người đọc nhiều tâm lý. Bức tranh thiên nhiên Tràng giang còn biểu lộ ở cánh chim như đang chở nặng bóng chiều, vì bóng chiều mà cánh chim bỗng trở nên nhỏ bé hơn ? Hay vì cánh chim chao lượn như kéo cả bóng chiều ? Dù hiểu theo cách nào ta vẫn thấy cánh chim đơn độc giữa một khoảng chừng không mênh mang. Cánh chim bơ vơ lạc lõng hay chính lòng người cũng hoang mang lo lắng tìm kiếm một điểm tựa .Một khung cảnh thiên nhiên trang trọng, hùng vĩ Open. Trên phông nền thiên nhiên là cả một tấm lòng dành cho đời .

“Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Lòng quê chính là tình cảm thiêng liêng dành cho quê nhà quốc gia. Câu thơ gợi lên cảm xúc xốn xang, không dứt, trở đi trở lại như một nỗi ám ảnh. Từ đó cho thấy tình yêu với quốc gia quê nhà như lan tỏa thấm đãn theo từng con nước. Nỗi nhớ thế cho nên mà trở nên da diết hơn .Thôi Hiệu nhìn thấy làn khói sóng mờ ảo trên sông mà nhớ đến quê nhà. Còn Huy Cận không cần một tín hiệu gợi nhắc mà tình cảm ấy lại ùa về tràn ngập tâm hồn. Tiếng sóng của khoảng trống biển lớn bát ngát hay chính là tiếng sóng lòng của nhà thơ, cuồn cuộn không nói nên lời .Đây chính là nỗi niềm của một người đứng trên quê nhà mà lại nhớ về quê nhà. Và đó cũng là nguyên do sâu xa cũng nỗi đơn độc, sự bất lực trước thực tại. Liên hệ với thực trạng thực tiễn quốc gia lúc bấy giờ ta càng đồng cảm thêm tâm trạng của thi nhân khi đứng trước cảnh sông dài trời rộng nhưng bến lại là bến bờ quạnh vắng cô liêu .
Nhận xét tác phẩm khi phân tích bức tranh thiên nhiên Tràng giang
Bức tranh thiên nhiên Tràng giang được vẽ lên bởi những hình ảnh đơn sơ mộc mạc nhưng giàu sức gợi. Một thi hứng tưởng chừng quen thuộc trong thơ ca – nỗi buồn nhân thế trước cảnh trời đất cô liêu nhưng trong niềm cảm hứng của Xuân Diệu lại mang một vẻ đẹp rất riêng vừa quen thuộc lại vừa mang sắc tố riêng .Bài thơ có sự vận dụng phối hợp nhuần nhị giữa bút pháp văn minh và bút pháp cổ xưa. Ẩn trong bức tranh thiên nhiên Tràng giang còn là bức tranh tâm trạng của thi nhân. Một nỗi buồn da diết nhẹ nhàng nhưng đầy ám ảnh trong từng câu từng chữ. Đó là nỗi sầu của cái tôi đơn độc trước thiên hà to lớn bát ngát. Tuy nhiên le lói đâu đó ta vẫn thấy được một sự khát khao giao cảm hòa nhập với cuộc sống của thi nhân .Bởi vậy bức tranh thiên nhiên Tràng giang nói riêng hay thiên nhiên trong Thơ mới nói chung, dẫu đẹp đến đâu nhưng vẫn đượm buồn. Đó là cái nét yên ắng, tách rời nhau trong những sự vật trên của thiên nhiên nhưng thực ra được gợi dậy từ một tâm hồn buồn trong lòng người thi nhân .Nhà thơ của tập Lửa thiêng như chở nỗi sầu quá lớn, thậm chí còn là nỗi sầu của cả một thế hệ nên khoảng trống trong thơ ông cứ nới rộng ra mà lòng người vẫn u uất. Không gian trong bức tranh thiên nhiên Tràng giang càng lớn thì con người càng nhỏ bé, đơn độc và lạc lõng .Nhưng đằng sau những xúc cảm ấy, người đọc vẫn nhìn thấy những ngọt ngào về tâm sự thầm kín của thi nhân. Huy Cận có lẽ rằng phải yêu và gắn bó với mảnh đất quê nhà lắm, mới nhìn đâu cũng thấy ám ảnh bởi nỗi buồn. Nhà thơ đứng trên đất quê mình, cảnh đẹp quê mình mà sao đâu đâu cũng thấy yên lặng, tàn lụi. Bức tranh thiên nhiên Tràng giang còn được khơi dậy bởi nỗi nhớ nhà ở cuối bài thơ, giúp xóa nhòa cái cảm xúc thiếu thốn ngay khi ở trên quê nhà .
Kết bài: Khi cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang, người đọc nhận ra bài thơ cũng chính là tiếng lòng của Huy Cận đối với cuộc đời này. Bức tranh thiên nhiên Tràng giang không tách biệt mà hòa cùng nỗi niềm của con người – một nỗi buồn vạn cổ. Giữa sự nhỏ bé của con người trước dòng đời, thi nhân cũng đã tìm thấy được bến đỗ, điểm tựa – đó chính là quê hương. Bài thơ đã khép nhưng dư âm của nó vẫn còn vang vọng mãi như những cơn sóng cứ xô mãi xô mãi vào lòng người đọc.
Dàn ý phân tích bức tranh thiên nhiên Tràng giang
Mở bài về bức tranh thiên nhiên Tràng giang
Giới thiệu đôi nét về tác giả Huy Cận cùng tác phẩm Tràng giang .
Dẫn dắt về chủ đề thiên nhiên trong thơ ca lâu nay, từ đó liên hệ bức tranh thiên nhiên Tràng giang .
Thân bài về bức tranh thiên nhiên Tràng giang
Bức tranh thiên nhiên Tràng giang bộc lộ sự bát ngát rợn ngợp nơi sông nước .
Bãi bờ quạnh vắng đơn độc trong xúc cảm của thi nhân .
Bóng chiều và nỗi nhớ quê nhà da diết .
Kết bài về bức tranh thiên nhiên Tràng giang
Đánh giá lại tác giả tác phẩm .
Đánh giá nội dung về bức tranh thiên nhiên Tràng giang .
Nhà thơ Huy Cận đã miêu tả bức tranh thiên nhiên Tràng giang với những gì vốn có, thậm chí còn cả những thứ quá nhỏ bé, tầm thường. Có thể thấy, dưới con mắt đa sầu, đa cảm của nhà thơ Huy Cận đã biến hóa nó thành những hình ảnh đầy chất thẩm mỹ và nghệ thuật. Như vậy, khi nghiên cứu và phân tích bức tranh thiên nhiên Tràng giang, ta còn nhận thấy cái đẹp không phải cứ phải hiện lên qua những cảnh sắc lộng lẫy, mà nhiều lúc chỉ cần có sự giao hòa với tâm hồn thi sĩ thì mọi thứ đều trở nên đẹp và có hồn .
Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng Giang – Mẫu 1

Tràng giang là bài thơ hay nói về thiên nhiên của dòng sông Trường Giang, dưới con mắt của thi sĩ nó trở nên vô cùng thơ mộng và đầy tinh tế. Dưới cái nhìn đầy gợi cảm và phong phú, bài thơ đã có sự kết hợp mạnh mẽ giữa những yếu tố kì ảo và thơ mộng trữ tình, để có thể có được một bức tranh thiên nhiên đẹp hùng vĩ.
Mở đầu bài thơ tác giả đã thể hiện hình ảnh sóng gợn trên con sông Trường Giang dài mà mang một nỗi buồn man mác, ở đây tác giả cũng đang thể hiện đúng dòng tâm trạng của mình, trước khung cảnh thiên nhiên rộng mênh mang, con người như đang trôi chảy theo nhịp sống, cũng tấp nập và cũng vô cùng dịu dàng, trước một khung cảnh thiên nhiên, tươi tắn và cũng vô cùng thơ mộng:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Hình ảnh của con sóng đang gợn, đó là dòng tâm trạng của con người cũng đang chảy trôi, lăn tăn trên dòng nước, ở đó con người như đang hòa nhập và tạo nên nhiều khung cảnh trữ tình, dòng nước trôi miên man, con người cũng đang hòa nhập trên dòng sông, với những cảm xúc buồn man mác, con người ở đây cũng phải hòa mình vào dòng cảm xúc đang chảy của thiên nhiên trữ tình. Hình ảnh con thuyền tự trôi theo dòng nước, cứ xuôi mái, ở đây dường như không có người lái đò, nó tự trôi chảy, ở đây thiên nhiên cũng giống như tâm trạng của con người, cũng đang lững lờ trôi mà không có một bờ vô định nào, cuộc sống cũng đang chảy trôi theo những dòng cảm xúc hỗn dung nhiều cảm giác của con người.
Ở đây trong không gian mênh mông rộng lớn đó, dường như sóng, và dòng nước đang làm bạn với con thuyền, nhưng khi thuyền mà về thì dòng nước cũng mang những nỗi buồn man mác, cách xây dựng biện pháp nhân hóa ở đây được thể hiện một cách có ý nghĩa nhất. Tác giả thổi hồn mình vào sự vật, làm cho nó trở nên có hồn hơn, con người cũng đang chảy trôi theo dòng nước, nỗi buồn của nước giống như nỗi buồn của con thuyền, ở đó con người đang phải lênh đênh, vô định, trước một khoảng không gian mênh mông. Con thuyền ở đây nó được thể hiện trong cảm xúc của con người, nó vô định, dạt dào và mang nhiều cảm giác mới mẻ, ở đó con người được sống những giây phút hạnh phúc nhất khi đang hòa mình vào thiên nhiên mặc dù con người đang phải trải qua những giây phút trống vắng trong tâm hồn.
Ở đây biện pháp đảo ngữ cũng được sử dụng hết sức tinh tế, tác giả không viết là củi khô mà lại viết “củi một cành khô”, ở đây biện pháp đảo ngữ làm tăng thêm độ mênh mang, dào dạt trong cảm xúc của con người, ở đó con người đang dạt dào nhiều cảm xúc, hình ảnh lạc mấy dòng cũng thể hiện được dòng tâm trạng hiu hắt, nó làm lay động trái tim của người đọc bởi tính chất và mức độ thể hiện ở đó, cách thể hiện đầy tinh tế, nó làm gia tăng thêm cảm xúc và giá trị trong tác phẩm, mỗi lời thơ đều được cảm nhận bằng những tính chất và mức độ khác nhau, chính vì vậy cuộc sống của con người cũng đang rơi vào những bờ lạc lõng, tâm trạng của thi sĩ cũng mang nhiều cảm xúc bởi nó có hồn và chứa chan nhiều giá trị sống:
“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống, chiều lên sâu chót vót
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”
Hình ảnh dài và rộng của dòng sông cũng được thể hiện một cách sâu sắc và có nhiều ý nghĩa nhất, dòng sông mênh mang chứa chan bao nhiêu cảm xúc của thi sĩ, trước con mắt của tác giả dòng sông đang trôi dạt theo nhiều cảm xúc và nó cũng trở nên trữ tình:
“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”
Hình ảnh của bèo dạt thể hiện được sự trôi nổi, không có bờ đến, và rồi sự mênh mông đó cũng thể hiện cảm xúc của con người đang hòa mình vào dòng tâm trạng và cảm xúc của con người, bờ xanh thể hiện một cảnh vật thiên nhiên tươi tắn, nó cũng thể hiện một dòng tâm trạng xa xôi và hiu hắt của con người:
“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”
Hình ảnh của núi bạc, của những cánh chim nghiêng đang sà vào bóng chiều xa, với những hình ảnh đó tác giả đang có cảm xúc với hình ảnh của nhớ dòng sông và nhớ quê hương, hình ảnh đó gợi lại cho con người nhiều cảm xúc.
Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng giang như vẽ ra trước mắt người đọc một khung cảnh thiên nhiên, và dòng sông rộng mênh mang, trong đó tâm hồn con người cũng đang dạt dào trước nỗi nhớ quê hương.
Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng Giang – Mẫu 2
Chẳng biết tự bao giờ, thiên nhiên trở thành nguồn cảm hứng bất tận của thi ca. Thời đại nào cũng vậy, thiên nhiên luôn gợi nên nhiều cảm xúc trong lòng thi nhân. Thơ mới những năm 1930 đã coi thiên nhiên là một đề tài không thể thiếu. Những Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính,… đã mang tới những bức tranh thiên nhiên đẹp trong thơ. Và không thể không nhắc tới Huy Cận – một gương mặt xuất sắc, tiêu biểu của phong trào thơ mới. Tuy thơ ông luôn chất chứa sâu nặng nỗi buồn nhân thế nhưng vẫn khiến người đọc nao lòng trước vẻ đẹp của thiên nhiên. Điều đó được thể hiện rõ nét qua bài thơ Tràng giang – một sáng tác in trong tập Lửa thiêng (1940).
Thiên nhiên trong Tràng giang được gợi cảm hứng từ một con sông rộng lớn, mênh mông vào buổi chiều mùa thu 1939 khi tác giả đạp xe ngắm cảnh. Dù đó là con sông Hồng nhưng nhà thơ không gọi đích danh tên, mà gọi là “tràng giang” như thể đại diện cho bất cứ con sông nào của quê hương đất nước. Bởi vậy mà mọi cảnh vật đều thu hút vào tầm mắt của thi nhân, dẫu đẹp, dẫu buồn nhưng vẫn chất chứa những tình cảm thầm kín. Bức tranh thiên nhiên vì thế được hiện lên qua không gian của trời nước bao la, mênh mang đến rợn ngợp cõi lòng thi nhân.
Trước hết, Tràng giang mở ra một bức tranh thiên nhiên đẹp, bàng bạc một nét đẹp cổ xưa. Vẫn là đề tài quen thuộc, những thi liệu và bút pháp nghệ thuật vốn có trong thơ cổ, Huy Cận đã vẽ nên trên nền trời mây, sông nước mênh mông vô cùng, vô tận những sự vật nhỏ bé, đặc trưng. Có lẽ điều khiến người đọc ấn tượng trong bài thơ là những hình ảnh như sóng gợn, thuyền trôi, gió đìu hiu, bến cô liêu, bèo dạt, mây cao, núi bạc, chim nghiêng… gợi nên cái hồn thiên nhiên của thơ ca cả nghìn năm trước. Quả thực, nếu cứ nhìn người ta vẫn ngỡ đó là không gian của cảnh đẹp tiêu sơ, vắng lặng vốn thấy trong thơ Đường. Mà có lẽ nét cổ xưa nhất trong bài thơ phải kể đến hình ảnh chim nghiêng cánh nhỏ ở khổ cuối cùng. Nó gợi lên cảnh sắc rất thơ. Cánh chim trở trời chiều, chở linh hồn của vũ trụ reo rắc xuống trần gian.
Nhưng tác giả của Lửa thiêng lại kiếm tìm những sự vật mới, khiến bức tranh thiên nhiên mang hơi thở hiện đại. Có lẽ chưa bao giờ người ta bắt gặp trong thơ trước đó những thứ đời thường, bình dị, mộc mạc, chẳng hề ước lệ tượng trưng như Củi một cành khô lạc mấy dòng. Sắc thái của khung cảnh thiên nhiên bỗng trở nên đặc biệt hơn bao giờ hết, khi thi nhân bỗng nhìn thấy một sự vật đã khô kiệt, mất hết sức sống, đang trôi nổi, lênh đênh trên dòng nước. Chưa bàn đến ý nghĩa tâm tư mà nhà thơ gửi gắm, chỉ thấy chi tiết này đã phác họa thêm cho bức tranh tràng giang cái nét đẹp rất riêng. Thiên nhiên đẹp chưa chắc đã là những gì mơn mởn sức sống, chính cái khô kiệt của cành củi trên dòng sông càng làm cho cảnh vật có nét đẹp cuốn hút của nó. Thậm chí ngay cả cái cách nhìn hàng bèo của tác giả cũng gợi lên cảm giác về một khung cảnh thiên nhiên không phải bằng những nét vẽ cầu kì.
Và không thể phủ nhận nét đẹp bao trùm của thiên nhiên trong Tràng giang không phải là những khoảnh khắc giao mùa trong cái nhìn say đắm của Xuân Diệu, không có nét đặc trưng riêng có của một vùng quê xứ Huế như trong thơ Hàn Mặc Tử, mà đẹp theo những góc độ khác nhau của không gian. Điều hấp dẫn người đọc chính là nhà thơ đã mở nó rộng ra ở mọi chiều mà ngay từ nhan đề “Tràng giang” hay lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”, thiên nhiên được nhìn theo cái biên độ vô cùng, vô tận của nó. Suốt cả bài thơ, độ lớn không giới hạn ấy, còn được gọi là không gian vũ trụ đã làm nền cảnh để bức tranh tràng giang mang một nét đẹp đặc trưng, riêng có mà không bài thơ nào có được.
Nắng xuống trời lên sâu chót vótSông dài trời rộng bến cô liêu
Chỉ riêng câu thơ này đã tạo nên những chiều kích hết tầm của không gian ở cả ba chiều. Khung cảnh thiên nhiên được đo bởi khoảng cách ngược chiều trong độ sâu của nắng, độ cao rộng của trời và độ dài của sông. Thực ra chỉ cần những thứ nhỏ bé mà nhà thơ nhìn thấy trong khung cảnh ấy cũng đủ để nói lên sự rộng lớn của khung cảnh giống như thơ xưa. Nhưng dường sự cảm thức bị ám ảnh bởi không gian trong hồn thơ Huy Cận đã khiến ông phác họa nên những nét vẽ rộng hơn, mênh mông hơn. Chính vì thế trong con mắt của thi nhân đâu đâu cũng là thiên nhiên: lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng hay:
Lớp lớp mây cao đùn núi bạcChim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Thiên nhiên bỗng mang những nét hùng vĩ, tráng lệ mà chẳng cần đến những núi non trùng điệp, chỉ cần mọi thứ được khuếch đại hết tầm theo mọi chiều của không gian như trong bài thơ này. Nét thơ mộng trong khung cảnh vì thế cũng dần dần được mở ra.
Tuy nhiên cái vắng lặng, hoang sơ, im lìm đến hiu hắt cũng là một nét đẹp riêng trong khung cảnh thiên mà Tràng giang thể hiện được. Có thể thấy phông nền chủ đạo của thiên nhiên trong bài thơ là sự rộng lớn, mênh mông của sông nước, mây trời, nhưng cái cảm giác tĩnh lặng mới chính là cái hồn cốt tạo nên nét đẹp của bức tranh này. Có lẽ chưa bao giờ người ta thấy một không gian nào lớn như Tràng giang, nhưng cũng chưa bao giờ thấy không gian rộng lớn nào mà lại yên ắng, quạnh hiu như thế. Sóng dẫu nhiều cũng chỉ gợn trên mặt nước mênh mông. Thuyền những tưởng gieo sự sống nhưng lại buông trôi, lững lờ như chẳng liên quan gì đến nước. Những cồn nhỏ gió đìu hiu, bến cô liêu càng tô đậm sự yên ắng. Và ngay cả âm thanh làng xa vãn chợ chiều có thực sự phảng phất đâu đây cũng không làm cho khung cảnh thêm phần sống động. Chính cái mênh mông không cầu, không đò của một dòng sông như thế cũng là một nét đẹp mà thiên nhiên trong bài thơ đã mang lại. Vẫn phải thừa nhận nhà thơ Huy Cận đã sử dụng một hệ thống từ láy gợi cảm giác, nhất là những từ láy nguyên đã làm cho cái không khí vắng vẻ, quạnh hiu trên dòng sông hiển hiện được. Các từ như điệp điệp, song song, lơ thơ, đìu hiu, lặng lẽ, lớp lớp, dợn dợn… cứ nối tiếp nhau từ đầu đến cuối bài thơ đã duy trì cái cảm giác cô quạnh như thế trong khung cảnh thiên nhiên.
Bởi vậy mới nói, thiên nhiên trong Tràng giang hay thiên nhiên trong thơ mới, dẫu đẹp đến đâu nhưng vẫn đượm buồn. Cái nét yên ắng, tách rời nhau trong những sự vật trên của thiên nhiên thực chất được gợi dậy từ hồn buồn trong lòng thi nhân. Huy Cận chở nỗi sầu quá lớn, thậm chí là nỗi sầu của cả một thế hệ nên không gian trong thơ ông cứ nới rộng ra mà lòng người vẫn u uất. Không gian thiên nhiên càng lớn thì con người càng nhỏ bé, cô đơn và lạc lõng. Nhưng đằng sau những xúc cảm ấy người ta vẫn nhìn thấy những lắng đọng về tâm sự thầm kín của thi nhân. Nhà thơ hẳn phải yêu và gắn bó với mảnh đất quê hương lắm, mới nhìn đâu cũng thấy ám ảnh bởi nỗi buồn. Đứng trên đất quê mình, cảnh đẹp quê mình mà sao đâu đâu cũng thấy vắng lặng, tàn lụi. Nỗi nhớ nhà ở cuối bài thơ vì thế mới trỗi dậy để xóa nhòa cái cảm giác thiếu thốn ngay khi còn ở trên quê hương.
Nếu nói đến cái đẹp về thiên nhiên trong bài thơ này thì quả thực Tràng giang đã làm được điều ấy. Huy Cận miêu tả khung cảnh trên một dòng sông với những gì vốn có, thậm chí cả những thứ quá nhỏ bé, tầm thường. Nhưng dưới con mắt đa sầu, đa cảm của thi nhân, ông đã biến hóa nó thành những hình ảnh đầy chất nghệ thuật. Cái đẹp không phải cứ phải hiện lên qua những cảnh sắc lung linh, mà đôi khi chỉ cần nó cũng đồng điệu với lòng người thì sự vật có tầm thường thì cũng trở nên đẹp đẽ.
Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng Giang – Mẫu 3
Tràng giang là bài thơ hay nói về thiên nhiên của dòng sông, dưới con mắt của thi sĩ nó trở nên vô cùng thơ mộng và đầy tinh tế. Dưới cái nhìn đầy gợi cảm và phong phú, bài thơ đã có sự kết hợp mạnh mẽ giữa những yếu tố kì ảo và thơ mộng trữ tình, để có thể có được một bức tranh thiên nhiên đẹp hùng vĩ.
Mở đầu bài thơ tác giả đã thể hiện hình ảnh sóng gợn trên con sông dài mà mang một nỗi buồn man mác, ở đây tác giả cũng đang thể hiện đúng dòng tâm trạng của mình, trước khung cảnh thiên nhiên rộng mênh mang, con người như đang trôi chảy theo nhịp sống, cũng tấp nập và cũng vô cùng dịu dàng, trước một khung cảnh thiên nhiên, tươi tắn và cũng vô cùng thơ mộng:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp điệpCon thuyền xuôi mái nước song songThuyền về nước lại sầu trăm ngảCủi một cành khô lạc mấy dòng.
Hình ảnh của con sóng đang gợn, đó là dòng tâm trạng của con người cũng đang chảy trôi, lăn tăn trên dòng nước, ở đó con người như đang hòa nhập và tạo nên nhiều khung cảnh trữ tình, dòng nước trôi miên man, con người cũng đang hòa nhập trên dòng sông, với những cảm xúc buồn man mác, con người ở đây cũng phải hòa mình vào dòng cảm xúc đang chảy của thiên nhiên trữ tình. Hình ảnh con thuyền tự trôi theo dòng nước, cứ xuôi mái, ở đây dường như không có người lái đò, nó tự trôi chảy, ở đây thiên nhiên cũng giống như tâm trạng của con người, cũng đang lững lờ trôi mà không có một bờ vô định nào, cuộc sống cũng đang chảy trôi theo những dòng cảm xúc hỗn dung nhiều cảm giác của con người.
Ở đây trong không gian mênh mông rộng lớn đó, dường như sóng, và dòng nước đang làm bạn với con thuyền, nhưng khi thuyền mà về thì dòng nước cũng mang những nỗi buồn man mác, cách xây dựng biện pháp nhân hóa ở đây được thể hiện một cách có ý nghĩa nhất. Tác giả thổi hồn mình vào sự vật, làm cho nó trở nên có hồn hơn, con người cũng đang chảy trôi theo dòng nước, nỗi buồn của nước giống như nỗi buồn của con thuyền, ở đó con người đang phải lênh đênh, vô định, trước một khoảng không gian mênh mông. Con thuyền ở đây nó được thể hiện trong cảm xúc của con người, nó vô định, dạt dào và mang nhiều cảm giác mới mẻ, ở đó con người được sống những giây phút hạnh phúc nhất khi đang hòa mình vào thiên nhiên mặc dù con người đang phải trải qua những giây phút trống vắng trong tâm hồn.
Ở đây biện pháp đảo ngữ cũng được sử dụng hết sức tinh tế, tác giả không viết là củi khô mà lại viết “củi một cành khô”, ở đây biện pháp đảo ngữ làm tăng thêm độ mênh mang, dào dạt trong cảm xúc của con người, ở đó con người đang dạt dào nhiều cảm xúc, hình ảnh lạc mấy dòng cũng thể hiện được dòng tâm trạng hiu hắt, nó làm lay động trái tim của người đọc bởi tính chất và mức độ thể hiện ở đó, cách thể hiện đầy tinh tế, nó làm gia tăng thêm cảm xúc và giá trị trong tác phẩm, mỗi lời thơ đều được cảm nhận bằng những tính chất và mức độ khác nhau, chính vì vậy cuộc sống của con người cũng đang rơi vào những bờ lạc lõng, tâm trạng của thi sĩ cũng mang nhiều cảm xúc bởi nó có hồn và chứa chan nhiều giá trị sống:
“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiuĐâu tiếng làng xa vãn chợ chiềuNắng xuống, chiều lên sâu chót vótSông dài, trời rộng, bến cô liêu”
Hình ảnh dài và rộng của dòng sông cũng được thể hiện một cách sâu sắc và có nhiều ý nghĩa nhất, dòng sông mênh mang chứa chan bao nhiêu cảm xúc của thi sĩ, trước con mắt của tác giả dòng sông đang trôi dạt theo nhiều cảm xúc và nó cũng trở nên trữ tình:
“Bèo dạt về đâu hàng nối hàngMênh mông không một chuyến đò ngangKhông cầu gợi chút niềm thân mậtLặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”
Hình ảnh của bèo dạt thể hiện được sự trôi nổi, không có bờ đến, và rồi sự mênh mông đó cũng thể hiện cảm xúc của con người đang hòa mình vào dòng tâm trạng và cảm xúc của con người, bờ xanh thể hiện một cảnh vật thiên nhiên tươi tắn, nó cũng thể hiện một dòng tâm trạng xa xôi và hiu hắt của con người:
“Lớp lớp mây cao đùn núi bạcChim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều saLòng quê dợn dợn vời con nướcKhông khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”
Hình ảnh của núi bạc, của những cánh chim nghiêng đang sà vào bóng chiều xa, với những hình ảnh đó tác giả đang có cảm xúc với hình ảnh của nhớ dòng sông và nhớ quê hương, hình ảnh đó gợi lại cho con người nhiều cảm xúc.
Cảm nhận bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng giang đã đọng lại trong lòng người đọc một khung cảnh thiên nhiên và dòng sông rộng mênh mang, trong đó tâm hồn nhà thơ cũng đang dạt dào một nỗi nhớ quê hương bất tận.
Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng Giang – Mẫu 4
Huy Cận một trong những nhà thơ nổi bật nhất trong phong trào Thơ Mới. Tập thơ đầu tay của ông là Lửa thiêng đã ghi những dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc. Nổi bật nhất trong tập thơ ấy ta không thể không nhắc đến Tràng giang. Tác phẩm không chỉ là nỗi niềm cô đơn khắc khoải của nhân vật trữ tình mà dưới ngòi bút tài hoa của Huy Cận một thiên nhiên thật đẹp, thật buồn cũng hiện lên vô cùng ấn tượng, rõ nét.
Tác phẩm được gợi cảm hứng từ những con sông rộng lớn, mênh mông của đất nước. Đọc Tràng giang người ta cố công tìm kiếm hình ảnh một con sông cụ thể lẩn khuất sau những câu chữ của Huy Cận. Nhưng tuyệt nhiên không thể xác định được nó là con sông nào, ở đâu. Bởi con sông ấy ta có thể bắt gặp ở bất cứ đâu trên đất nước Việt Nam này, đó là con sông quê hương, con sông thương nhớ. Nhan đề bài thơ là Tràng giang, tức những con sông dài, sông lớn, như vậy không gian mênh mông sông nước chính là nơi khơi nguồn cảm hứng thi ca trong lòng Huy Cận.
Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên trong Tràng giang là tuyệt tác, đượm buồn và thấm đẫm nỗi cô đơn. Mở đầu bài thơ là bức tranh thiên nhiên mang những nét cổ điển đặc trưng:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệpCon thuyền xuôi mái nước song songThuyền về nước lại sầu trăm ngảCủi một cành khô lạc mấy dòng
Khung cảnh mênh mông trời nước nối tiếp nhau mở ra, những con sóng nhỏ lăn tăn nối tiếp xô vào bờ, không gian mở được mở rộng với từ láy “điệp điệp”. Trên mặt sông rộng mênh mông ấy con thuyền xuất hiện thật nhỏ bé, đơn độc, kết hợp với những cành củi khô trôi lặng lờ giữa dòng sông, khiến cho khung cảnh thiên nhiên lại càng trở nên buồn bã, đìu hiu hơn.
Sang đến khổ thơ thứ hai, điểm nhìn của Huy Cận đã có sự dịch chuyển, thi sĩ hướng mắt ra xa hơn và trước mắt ông là “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu/ Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều/ Nắng xuống trời lên sâu chót vót/ Sông dài trời rộng bến cô liêu”. Vẫn là sông nước đấy thôi, nhưng tâm hồn thi sĩ đang cố gắng tìm kiếm trong không gian ảm đạm kia một chút hơi thở của sự sống ở nơi cồn nhỏ, ở tiếng chợ xa xa. Nhưng vẳng lại chỉ là sự nín thinh của vạn vật. Khổ thơ sử dụng hàng loạt các từ chỉ cái bé nhỏ: lơ thơ, cồn nhỏ kết hợp với các từ đìu hiu, cô liêu gợi nên hồn cốt sự vật đã làm nổi bật bức tranh phong cảnh buồn bã. Đọc câu thơ ta bất giác nhớ đến Chinh phụ ngâm:
“Non kì quạnh quẽ trăng treoBến thì gió thổi đìu hiu mấy gò”.
Tuy thời thế thay đổi, tuy cách nhau cả trăm năm, nhưng cảnh ấy, tình này vẫn chẳng hề đổi thay. Vẫn là sự hiu quạnh, vắng vẻ đến nao lòng của tạo vật. Thiên nhiên đó còn có sự tĩnh lặng đến tuyệt đối, âm thanh chợ xa hư thực thực hư khó lòng có thể xác định nổi. Nếu âm thanh đó là thực thì có lẽ không gian đã phải yên ắng biết chừng nào, con người mới có thể nghe được như vậy. Rời tầm mắt, Huy Cận di chuyển lên cao, trời đất mênh mông, “sâu chót vót” càng khiến con người cô đơn, lạc lõng hơn. Bức tranh thiên nhiên mở rộng cả ba chiều: chiều rộng, chiều cao và chiều sâu đến vô cùng. Những sự vật vận động trái chiều nhau nắng xuống trời lên khiến không gian càng được mở rộng hơn nữa. Sử dụng từ “sâu chót vót” là một từ rất lạ, không phải là cao mà là sâu đã nhấn mạnh cái sâu không cùng của cảnh vật, màu xanh ngút ngàn của bầu trời khiến có cái gì đó rờn rợn ở trong lòng.
Bức tranh cô đơn, hiu quạnh tiếp tục được bổ sung ở khổ thơ thứ ba:
Bèo dạt về đâu hàng nối hàngMênh mông không một chuyến đò ngangKhông cầu gợi chút niềm thân mậtLặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng
Những cánh bèo lặng lờ trôi trên dòng sông mênh mông rộng lớn, với những bờ xanh lặng lẽ tiếp bãi vàng. Sự quạnh hiu qua mỗi khổ thơ lại càng rõ nét hơn. Đây không chỉ đơn thuần là sự cô quạnh của khung cảnh mà nó còn là sự cô đơn trong chính tâm hồn người thi sĩ. Nguyễn Du đã từng đúc kết: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” cũng chính là vì lẽ đó. Cái nhìn của tâm trạng đã ảnh hưởng, đã thấm dần sang cảnh vật, khiến cho mọi vật trở nên ảm đạm, cô đơn như chính thân phận của người thi sĩ. Không gian thiên nhiên đó chính là không gian tâm trạng của nhân vật trữ tình.
Khổ thơ cuối bài thơ đã mở ra một bức tranh khác, hùng vĩ, tráng lệ:
Lớp lớp mây cao đùn núi bạcChim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa
Các lớp mây chồng xếp lên nhau thành từng tầng, từng bậc, đùn lên thành những núi mây bạc trắng xóa. Hòa cùng cái ráng chiều đỏ của hoàng hôn làm cho bức tranh diễm lệ, kì vĩ hơn bao giờ hết. Tương phản với sự hùng vĩ của thiên nhiên là cánh chim cô đơn, bé nhỏ đến đáng thương, tội nghiệp. Nhìn khung cảnh ấy lòng ông cũng không thôi nhớ về quê nhà: “Lòng quê dợn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.
Bức tranh thiên nhiên trong thơ Huy Cận đẹp mà thấm đẫm nỗi buồn, đó là nỗi buồn thê lương khắc khoải. Dù cuối bức tranh ấy có xuất hiện sự kì vĩ, mĩ lệ, nhưng chỉ là trong thoáng chốc, ngưng đọng ở bài thơ vẫn là nỗi cô đơn, lạc lõng thấm đầy trong từng cảnh vật.
Bài thơ Tràng giang là một bức tranh thiên nhiên đẹp đẽ, xinh xắn mà cũng thật độc đáo trong thơ ca Việt Nam. Đằng sau bức tranh ấy là nỗi nhớ quê hương khắc khoải, là tình yêu nước sâu đậm mà kín đáo của Huy Cận dành cho non sông, đất nước.
Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng Giang – Mẫu 5

Thiên nhiên là đề tài muôn thuở của thi ca, là cảm hứng sáng tác của rất nhiều nhà thơ. Mỗi tác giả lại có một cái nhìn riêng, một phương thức khác biệt để tái hiện cảnh thiên nhiên. Nếu như thiên nhiên trong thơ Xuân Diệu gây ấn tượng với vẻ đẹp mơn mởn tràn đầy sức sống thì thiên nhiên trong thơ Huy Cận lại gợi lên nhiều nghĩ suy bởi vẻ đẹp buồn man mác. Điều này được thể hiện vô cùng rõ nét qua bức tranh nhiên nhiên trong bài thơ “Tràng giang”. Thiên nhiên “Tràng giang” dưới ngòi bút Huy Cận hiện lên với vẻ đẹp cổ điển xen lẫn hiện đại, đẹp mà quạnh vắng cô liêu, bâng khuâng nỗi sầu.
Gợi mở bức tranh thiên nhiên là lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. 7 chữ ngắn gọn vừa diễn tả cảm hứng, hoàn cảnh sáng tác của bài thơ vừa dẫn dắt độc giả bước vào không gian thiên nhiên rộng lớn mang tầm vóc vũ trụ. Từ đó, hé mở dòng cảm xúc với nỗi nhớ bâng khuâng, sự lạc lõng, hoang mang giữa cảnh thiên nhiên rộng lớn, vô tận của một hồn thơ nhạy cảm, lẻ loi:
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;Củi một cành khô lạc mấy dòng.”
Vẫn sử dụng những thi liệu và bút pháp nghệ thuật quen thuộc song Huy Cận lại vẽ lên một bức tranh thiên nhiên vô cùng ấn tượng. Giữa dòng sông rộng lớn mênh mang, vô tận, từng con sóng gợn lăn tăn, gối đầu lên nhau “điệp điệp” như không dứt. Dòng nước lững lờ trôi đi, chậm chạp mà hờ hững, vô định. Xuôi theo nó là con thuyền nhỏ bé lênh đênh “xuôi mái song song” không phương hướng dường như phó mặc theo ý muốn của đất trời.
Thuyền và nước vốn song song đồng hành với nhau, đến đây lại cách xa đầy buồn tủi. Hình ảnh “thuyền về nước lại” gợi cảm giác xót xa chia lìa, mang theo hơi thở của nỗi sầu thương vây bủa. Kết hợp cùng hình ảnh “củi một cành khô lạc mấy dòng”, khung cảnh thiên nhiên vốn buồn man mác bỗng trở nên càng ưu sầu. Cành củi khô nhỏ bé nổi trôi, vô định, lẻ loi gấp nhiều lần khi chỉ có một mình giữa những dòng chảy mênh mông, cuộn xoáy. Nó dường nhiều mất đi sức sống, mất đi toàn bộ vẻ tươi xanh, nhỏ nhoi giữa không gian sông nước bao la càng khắc sâu thêm nỗi cô đơn trống vắng trong lòng người. Đồng thời, đây là hình ảnh ẩn dụ hiện đại, tượng trưng cho bao kiếp người nhỏ bé thời đại bấy giờ, nhỏ bé, cô đơn, lẻ loi trôi dạt giữa dòng sông cuộc đời bao la không tìm thấy bến bờ.
Dòng xúc cảm lặng lẽ chảy trôi, ngòi bút tài hoa của Huy Cận tiếp tục đặc tả cảnh thiên nhiên hoang vắng đến nao lòng:
“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”
Hai từ láy “lơ thơ”, “đìu hiu” được sử dụng khéo léo cùng biện pháp tu từ nhân hóa đã nhấn mạnh tâm trạng buồn thương của con người. Vẫn là sông nước mênh mông, vẫn là không gian bao la rộng lớn, vậy mà chỉ thưa thớt vài cồn cát, hắt hiu vài ngọn gió lạ. Ngay cả âm thanh của cuộc sống “tiếng làng xa vãn chợ chiều” dường như cũng biến mất, không biết “đâu”. Thi sĩ càng cố chạm tay vào hơi thở mong manh của cuộc sống càng thấy lòng mình thêm bâng khuâng, cô độc giữa cảnh thiên nhiên vốn bao la, nay càng mênh mang vô định bởi “nắng xuống, trời lên”.
Hình ảnh “Trời rộng sông dài” ở lời đề từ đến đây đã được đổi ngược lại thành tiểu đối “Sông dài trời rộng. Kết hợp với cụm từ “bến cô liêu”, nó khiến người đọc cảm nhận được tận cùng của thiên nhiên hoang vắng và nỗi cô đơn của con người.
Chưa dừng lại ở đó, bức tranh thiên nhiên buồn bã, hiu quạnh vẫn tiếp tục được chấm phá thêm ở khổ thơ tiếp theo:
“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”
Trên dòng tràng giang mênh mang sóng nước, một chuyến đò ngang cũng chưa từng xuất hiện, có chăng chỉ là vài cánh bèo lặng lờ trôi. Sự quạnh hiu đến đây đã thấm đượm qua từng cảnh vật. Nó không chỉ là sự hoang vắng của thiên nhiên mà còn là sự cô đơn toát lên từ chính tâm hồn thi sĩ giống như câu thơ “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Nguyễn Du). Những từ láy “mênh mông”, “lặng lẽ” kết hợp cùng điệp từ “không” và cụm từ “không một chuyến đò”, “không cầu” đã đẩy sự hoang vắng lên đến cực điểm, đưa độc giả đến tận cùng nỗi cô đơn, lạc lõng. Để rồi chỉ có “Bờ xanh tiếp bãi vàng” mênh mông đến hút tầm mắt.
Nét vẽ cuối cùng cho bức tranh ấy là khung cảnh hùng vĩ, bao la cùng nỗi sầu nhân thế bâng khuâng:
“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”
Mây trắng chuyển động thành từng lớp. Cánh chim nhỏ nhoi chao nghiêng bay về sau một ngày mệt nhọc. Trong bóng hoàng hôn, những hình ảnh ấy tạo nên một khung cảnh buồn vương vấn. Không gian rộng mở rợn ngợp còn nỗi buồn thì dằng dặc, bất tận. Nhà thơ chợt nhớ về quê hương, nhớ về cả thời đại. Đây chính là nỗi lòng của cả thế hệ trí thức lúc ấy trước thời cuộc rối ren.
Có thể nói, chỉ với 4 khổ thơ 7 chữ ngắn gọn nhưng bằng những nét bút tinh tế, khéo léo cùng bút pháp chấm phá đặc sắc, sự kết hợp hài hòa giữa hiện đại và cổ điển, Huy Cận đã vẽ lên trước mắt độc giả một bức tranh thiên nhiên vô cùng rung động: mênh mông vô tận và man mác nỗi buồn. Khung cảnh ấy không những thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước tha thiết của nhà thơ mà còn gửi gắm nỗi niềm tâm sự của cả thế hệ trí thức trong hoàn cảnh đất nước nhiều biến động.
Với những ý nghĩa đó, “Tràng giang” được đánh giá là bài thơ tiêu biểu cho phong cách Huy Cận. Nỗi “buồn” vô tận kết hợp với nỗi ám ảnh không gian lạ lùng đã ghi dấu ấn mạnh mẽ cho hồn thơ Huy Cận trong phong trào thơ Mới 1932-1945 nói riêng và văn học Việt Nam nói chung. Từ đó đóng góp cho nước nhà một tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời, đáng nâng niu, giữ gìn.
Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng Giang – Mẫu 6
Thiên nhiên là đề tài muôn thuở gợi cảm hứng sáng tác thơ ca cho các thi nhân, cũng giống như bao nhà thơ trung đại hay các nhà thơ mới khác Huy Cận cũng tả cảnh thiên nhiên nhưng đó không phải là thiên nhiên giàu sức sống, mơn mởn như trong “Vội vàng” của Xuân Diệu mà trong bài thơ “Tràng giang” đó là khung cảnh bao la, rộng lớn của sông nước mây trời. Bức tranh đó tuy đẹp mà buồn quạnh vắng, cô liêu. Bức tranh vừa mang nét đẹp cổ điển và hiện đại ẩn đằng sau đó là nỗi buồn sâu thẳm và tình yêu quê hương đất nước thầm kín của thi sĩ Huy Cận.
Ngay trong nhan đề “Tràng giang” đã gợi ra cảnh sông nước mênh mông, khi nhà thơ đứng trên bến Chèm sông Hồng quan sát cảnh vật xung quanh mà sáng tác, dù đó là một con sông cụ thể có tên gọi nhưng thi sĩ dùng cách nói khác để gợi ra hình ảnh dòng sông trải dài đến vô tận. Lời đề từ thể hiện cảm xúc chủ đạo của tác phẩm là nỗi buồn, nỗi nhớ xuyên suốt toàn bài của thi sĩ cô đơn trước cảnh “trời rộng nhớ sông dài”.
Trước tiên ta thấy thiên nhiên ở đây mang dáng dấp cổ kính trong thơ Đường. Thi sĩ cũng tả cảnh sông nước, mây trời có sử dụng các hình ảnh thuyền, bèo, cánh chim…đó đều là các thi liệu trong thơ ca cổ được các nhà thơ trung đại dùng để miêu tả cảnh chiều tà với nỗi buồn nỗi nhớ quê hương của những người khách lứ thứ xa quê.
Nhưng thiên nhiên ấy cũng mang đậm chất chất dân tộc rất gần gũi với cuộc sống người dân Việt. Dù thi sĩ miêu tả cảnh sông nước của con sông Hồng cụ thể nhưng lại không gọi tên mà chỉ tả cảnh vật để cho ta thấy đó là bất kì con sông nào của đất Việt đều hiện lên rất quen thuộc của dòng sông sóng gợn, thuyền xuôi mái chèo hay bèo dạt trên sông và tiếng chợ chiều xa xa… Tuy nhiên thiên nhiên trong bài thơ cũng mang những dấu ấn đặc sắc riêng biệt bởi hình ảnh: “Bèo dạt về đâu hàng nối hàng” nó không phải là từng cánh bèo, khóm bèo mà là hàng nối hàng đang bị trôi dạt bởi dòng nước rất nhiều. Thiên nhiên trong cái nhìn của thi nhân thật khác biệt vừa có nét cổ kính trang nhã trong thơ xưa, vừa hiện đại mang đậm phong vị dân tộc.
Không gian trong bức tranh thiên nhiên là sự mênh mông, bao la đến rợn ngợp của “Nắng xuống trời lên sâu chót vót/ Sông dài trời rộng bến cô liêu”. Nắng với trời sẽ chẳng thể tách rời ấy vậy mà “Nắng xuống, trời lên” tạo nên một khoảng cách sâu chót vót. Người ta nói cao chót vót còn với thi nhân nó lại là sâu bởi nắng càng xuống khuất bóng nhường hoàng hôn thì trời càng cao tạo nên độ sâu thăm thẳm. Dường như nhà thơ đang đứng từ dưới nhìn lên nên mới có thể cảm nhận được điều đó. Trải rộng ra là “Mênh mông không một chuyến đò ngang/ Không cầu gợi chút niềm thân mật”. Thi nhân muốn có gì đó để bấu víu lấy cảm xúc cho đỡ trơ trọi nhưng đổi lại chỉ là một chữ không được điệp lại hai lần ở câu trên và câu dưới chỉ còn biết lặng lẽ với bờ xanh tiếp bãi vàng. Mọi thứ trở nên tĩnh lặng vô cùng, dường như sự sống ở đây chỉ có một mình nhà thơ với cảnh vật đẹp mà cô liêu, ảm đạm.
Giữa không gian mênh mông, vời vợi ấy các sự vật hiện lên với sự nhỏ bé, cô đơn, lạc lõng. Đó là hình ảnh “Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Thiên nhiên không có sức sống nó chỉ là một cành củi khô từ rừng sâu xa thẳm lạc giữa chốn sông nước. Cách sử dụng nghệ thuật đảo ngữ thật độc đáo nhấn mạnh đặc điểm đối tượng. Câu thơ khiến cho ta nhớ tới hình ảnh chiếc bách trong thơ Hồ Xuân Hương “Chiếc bách buồn vì thân phận nổi nênh/ Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh” gợi đến tâm trạng cô đơn trước thiên nhiên và cuộc đời của tác giả. Đó là cánh chim nghiêng trong bóng chiều xa giữa khung nền “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc”. Chim nghiêng cánh nhỏ kéo bóng chiều cùng sà xuống mặt nước tràng giang hay bóng chiều đè nặng lên cánh chim khiến nó phải chao nghiêng đôi cánh. Cánh chim nhỏ dưới bóng chiều buông xuống mang nặng tư tưởng tác giả, ẩn dụ cho những kiếp người nhỏ bé bị bão táp cuộc đời xô đẩy, ngả nghiêng ẩn dụ cho cái tôi cá nhân phiền não của thi nhân trải nỗi buồn ra khắp không gian.
Sự chuyển động của cảnh vật cũng rất nhẹ nhàng như có như không của “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp” hay gió đìu hiu thổi trên cồn cỏ. Sóng gợn nhẹ trên mặt nước ta đã từng bắt gặp trong câu thơ Nguyễn Khuyến “Sóng biếc theo làn hơi gợn tí” thật bình lặng với nghệ thuật lấy động tả tĩnh. Cùng với đó là “Con thuyền xuôi mái nước song song/ Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”. Hai sự vật thuyền và nước đi liền với nhau nhưng trong cái nhìn của thi nhân dường như có sự tan tác, li biệt. Chi tiết “xuôi mái” cho thấy sự phó mặc, buông xuôi. Thuyền và nước thường phải có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau nhưng ở đây ta thấy nó như rời rạc, tách nhau ra bởi “thuyền xuôi” còn “mái nước song song”, thuyền và nước lại ngược hướng với nhau “thuyền về nước lại” tạo ra sự ngăn cách. Nỗi sầu của nước tan chảy ra trăm ngả trên sông. Nỗi sầu ấy cũng là nỗi sầu nhân thế của thi nhân mang tâm trạng chán nản, buồn tủi. Hình ảnh con thuyền bơ vơ, cô độc là một thi liệu quen thuộc đã từng xuất hiện trong thơ xưa như: “Cô phàm viễn ảnh bích không tận/ Duy kiến trường giang thiên tế lưu” (Bóng buồm đã khuất bầu không/ Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời).
Ẩn đằng sau bức tranh thiên nhiên đẹp mà buồn ấy là tâm trạng của thi nhân “Lòng quê dợn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” được gợi từ hai câu thơ trong bài “Lầu Hoàng Hạc” của Thôi Hiệu: “Nhật mộ hương quan hà xứ thị/ Yên ba giang thượng sử nhân sầu” (Quê hương khuất bóng hoàng hôn/ Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai” nếu tiền nhân đời Đường bên Trung Hoa nhìn khói sóng trên sông mà nhớ quê hương thì Huy Cận thật sáng tạo khi “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Đó còn là nỗi buồn của tầng lớp trí thức lúc bấy giờ khi đứng trước hoàn cảnh nước mất nhà tan của dân tộc cho thấy tình yêu quê hương đất nước thầm kín được thể hiện trong thơ Huy Cận.
Với những nét đặc sắc nghệ thuật vừa cổ điển vừa hiện đại trong lối thơ bảy chữ niêm luật chặt chẽ như thơ Đường, dồi dào nhạc điệu đã khiến cho bức tranh thiên nhiên trong bài thơ “Tràng giang” hiện lên thật đẹp mà buồn ảm đạm mang nặng tư tưởng của tác giả.
Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng Giang – Mẫu 7
Bài thơ Tràng giang in trong tập Lửa thiêng là bài thơ hay nhất của Huy Cận và cũng là trường hợp tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ ông trước Cách mạng. Bức tranh thiên nhiên trong Tràng giang đã kết tụ nỗi buồn “mang mang thiên cổ” ở Huy Cận, được diễn đạt bằng hình thức thơ trang trọng, cổ kính, đậm đà phong vị Đường thi mà vẫn giản dị, mới lạ, độc đáo, mang rõ dấu ấn thời đại của Thơ mới.
Ngay ở nhan đề, Tràng giang đã cho ta biết cảm hứng của bài thơ là cảm hứng từ một không gian. Thật thế, chính tác giả đã thổ’ lộ: “Nhìn dòng sông lớn gợi những lớp sóng, tôi cảm thấy nỗi buồn của mình cũng đang trải ra những lớp sóng”. Tràng giang là sông dài, “trường” cũng là dài nhưng “tràng” có âm “ang” là âm mở rộng, gợi được cả dài lẫn rộng. Hơn nữa Tràng giang láy âm cuối “ang” càng khơi gợi cảm giác mênh mang, bát ngát của dòng sông lớn.
Tiếp theo, câu đề càng thổ hiện đầy đủ tình, cảnh gợi tứ cho bài thơ. Tình là bâng khuâng, nhớ cảnh là trời rộng, sông dài. Bài thơ mở ra trước tầm mắt ta bức tranh bao la, rộng lớn của cảnh trời nước mênh mang. Không gian ở đây thật vô định. Nó được trải ra ở cả ba chiều: chiều dài, chiều rộng, chiều cao, với những hình ảnh phong phú: tràng giang, trăm ngả, mấy dòng, sâu chót vót, sông dài, trời rộng, mây cao, núi bạc… Tất cả bầu trời, mặt đất đều là vô tận, không cùng của vũ trụ. Huy Cận sử dụng nghệ thuật đối lập rất tự nhiên bởi ông đã đặt vào giữa cái không gian bất tận mênh mông ấy những hiện thực của cuộc sống không thế thiếu vắng. Đó là những sự vật cụ thể, nhỏ nhoi, đơn chiếc, con thuyền xuôi mái, củi một cành khô, cồn nhỏ lơ thơ, chim nghiêng cánh nhỏ… nhưng càng làm tăng thêm cái cao rộng của bầu trời, mặt đất. Cái hữu hạn thì vô nghĩa, vô hướng, nhỏ bé, nhạt nhòa, không đáng kể nhưng đã làm nổi bật cái vô hạn không cùng.
Tràng giang không chỉ là bức tranh phong cảnh đẹp với những đường nét, hình khối, trái lại, đây còn là một bức tranh tuyệt đẹp mang nét buồn mênh mang, quạnh vắng, cô liêu. “Thơ mới” đã đem đến cho người đọc những bức tranh thiên nhiên rạng rỡ nhiều thanh sắc. Thiên nhiên trong Tràng giang cũng có vẻ đẹp riêng của nó. Đó là vẻ đẹp nên thơ của những con sóng điệp điệp đuổi nhau trên mặt nước, của cồn nhỏ lơ thơ, của bờ xanh tiếp bãi vàng chạy dài tít tắp. Đó là vẻ đẹp hùng vĩ của cảnh nắng xuống trời lên sâu chót vót, của cảnh sông dài trời rộng, của mây cao, núi bạc…
Cái đẹp thường gắn với nỗi buồn, đó là cảm quan nghệ thuật của các nhà thơ lãng mạn. Ớ Tràng giang cũng vậy, thiên nhiên trong Tràng giang thật đẹp mà cũng thật buồn. Nỗi buồn cũng bao la mà hiu quạnh. Nhà thơ đã đem nỗi lòng mình và tâm trạng của một thế hệ nhà thơ mới phủ lên cảnh vật. Thôi thì đủ các cung bậc: buồn điệp điệp, sầu trăm ngả, bên cô liêu, bờ sông lặng lẽ như thời tiền sử, lòng quê dạn dợn… đặc biệt bức tranh thiên nhiên ở đây không hề có lây một dấu hiệu của con người, giao cảm, gặp gỡ… bởi đã được phủ định: không dò, không cầu, không khói… quạnh vắng, thê lương.
Ngoài ra, bài thơ Tràng giang còn là một bức tranh thiên nhiên mang màu sắc cổ điển mà hiện đại.
Cả bài Tràng giang mang tính chất trang nghiêm, cổ kính, đậm đà phong vị Đường thi, nhưng cũng rất mới mẻ, hiện đại. Chất cố điển hiện ở cảm xúc của bài thơ (con người một mình đối diện với vũ trụ để cảm nhận cái vĩnh viễn vô cùng của không gian, thời gian, để nghĩ về kiếp người), cổ điển trong việc học tập Chinh phụ ngâm, cổ điển có nhạc diệu và tứ thơ Đỗ Phủ (trong bài Đãng cao), cổ điển ở việc lấy ý thơ của Thôi Hiệu (trong Hoàng Hạc lâu)… Nhưng đồng thời cảnh vật trong bài thơ cũng hết sức cụ thể, đời thường (cành củi khô, cồn cát, cánh bèo… ). Hơn nữa, đây còn là một bức tranh đậm đà phong vị Việt Nam. Tràng giang, cái tên gợi nhớ đến dòng Trường giang ngàn dặm ở Trung Quốc từng là nguồn cảm hứng cho bao thế hệ thi nhân. Tứ thơ Thôi Hiệu ở cuối bài Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà lại càng tăng thêm không khí Đường thi của bài thơ. Tuy thế, bức tranh thiên nhiên ở đây lại rất Việt Nam. Một dòng sông, một cành củi trôi, một cồn cát nhỏ, một chợ chiều ở một làng xa, những cánh bèo trên mặt nước, cánh chim chao liệng trên nền mây bạc lúc hoàng hôn đều là những cảnh quê hương đất nước, gần gũi, thân thuộc với mỗi con người Việt Nam.
Nói tóm lại, bài thơ Tràng giang toát lên một nỗi buồn mênh mang, thấm vào linh hồn cảnh sắc quê hương, gợi tình mến yêu quê hương một cách sâu lắng. Xuân Diệu nhận xét: “Tràng giang, là một bài thơ ca ngợi non sông đất nước, do đó, dọn đường cho tình yêu giang sơn Tổ quốc”.
Xem thêm: Phèn nhôm là gì? Công thức và các loại phèn nhôm sunfat
 
Hy vọng với bài viết trên đây về chủ đề phân tích và cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang, bạn đã có thêm những kiến thức hữu ích phục vụ cho quá trình học tập. Chúc bạn luôn học tốt!
Source: https://camnangbep.com
Category: Học tập
DaiLyWiki cũng giúp giải đáp những vấn đề sau đây:
Dàn ý bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng giang
Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng giang
Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Từ ấy
Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Cảnh ngày hè
Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ cảnh ngày hè gợi ra điều gì
Về tranh Tràng giang
Qua bài thơ Tràng giang”, tác giả muốn gửi gắm điều gì
Chuyến đò ngang và cây cầu là phương tiện có ý nghĩa

#Cảm #nhận #bức #tranh #thiên #nhiên #Tràng #giang #của #Huy #Cận #mẫu


  • #Cảm #nhận #bức #tranh #thiên #nhiên #Tràng #giang #của #Huy #Cận #mẫu
  • Tổng hợp: DaiLyWiki

Như vậy, trong nội dung bài viết trên đây, DaiLy Wiki đã cập nhật cho bạn thông tin về “Cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang của Huy Cận (7 mẫu)❤️️”. Hy vọng thông qua những gì bài viết “Cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang của Huy Cận (7 mẫu)” đã chia sẻ có thể giúp bạn đọc thêm nhiều thông tin về “Cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang của Huy Cận (7 mẫu) [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết về “Cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang của Huy Cận (7 mẫu)” được sưu tầm và đăng bởi admin DaiLy Wiki vào ngày 2022-09-26 14:32:26. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại Dailywiki.org

Rate this post
Continue Reading

Blog

Tập hợp N và tập hợp N*, thứ tự trong tập hợp số tự nhiên Toán 6

Published

on

HOC247 xin gửi tới các em học trò có thêm nguồn tài liệu để khẳng thành kiến ​​thức và kỹ năng giải đề. N và N *, quy trình của các số thiên nhiên Toán 6.. Vui lòng tham gia với chúng tôi.

SETN và SETN *, được xếp đặt theo 1 các số thiên nhiên

lần trước nhất..Gicửa ải pháp

các số thiên nhiên được trình diễn bởi N.

N = {0; 1; 2; 3; 4;…}

các số thiên nhiên khác 0 được trình diễn bằng N *.

N * = {1; 2; 3; 4;…}

Thứ tự như 1 các số thiên nhiên

Trong 2 số thiên nhiên không giống nhau, 1 số bé hơn số kia. Nếu số a bé hơn số b thì aViết a.

+ Con người cũng là 1 abViết có tức là a hoặc b = a.

+ a

+ Mọi số thiên nhiên đều có 1 dãy số độc nhất

+0 là số thiên nhiên bé nhất, chẳng phải là số thiên nhiên to nhất.

N có vô biên phần tử

Viết 1 số thiên nhiên

+ Các số thiên nhiên có 2 chữ số được biểu hiện là: ab = 10a + b trong đấy a là 10 chữ số và b là chữ số hàng đơn vị.

+ Các số thiên nhiên có 3 chữ số được trình diễn bằng abc = 100a + 10b + c. Trong đấy a là 100 chữ số, b là 10 chữ số và c là chữ số hàng đơn vị.

Vui lòng nhập chữ số La mã

Các chữ số La Mã thường được sử dụng và các trị giá tương ứng của chúng

Tôi: 1

V: 5

X: 10

Từ các chữ số La Mã ở trên, nó có thể được tạo nên bằng cách liên kết 1 số số như sau.

Tôi

lần trước nhất

II

2

III

3

IV

4

vẽ

5

tại vì

6

VII

7

VIII

số 8

IX

9

X

Mười

Nếu bạn thêm nó vào bên trái của mỗi số trên, nó sẽ giống như sau:

+ 1 chữ số X nhận các chữ số La Mã từ 11 tới 20

+ Hai X có chữ số La Mã từ 21 tới 30

Tỉ dụ: XVIII: 18

XXVIII: 28

2..nhân vật

Tỉ dụ 1:

1. Viết A gồm 8 số thiên nhiên x: x = 2

b. Viết B các số thiên nhiên với x + 3

C. D các số thiên nhiên với x: 2 = x: 4

d. E các số thiên nhiên x sao cho x + 0 = x

Hướng áp giải pháp:

Có 8: x = 4

x = 8: 4

x = 2

A = {2}

x + 3

x

x

Do đấy, B = {0; 1}

chúng ta có:

X: 2 = x: 4

Do đấy, x = 0

Do đấy, D = {0}

Mọi số cùng với 0 đều bằng chính nó

Do đấy, x ∈ {0; 1; 2; 3; 4;…}

Hoặc E = nữ

Tỉ dụ 2: Cho số thiên nhiên 199; 1000; a (a ∈ N *)

1.Viết các số thiên nhiên tiếp theo cho mỗi số

b.Hoặc viết 1 số thiên nhiên ngay trước mỗi số

Hướng áp giải pháp:

1.Số thiên nhiên tiếp theo

199 là 199 + 1 = 200

1000 là 1000 + 1 = 1001

a là +1

b.Số thiên nhiên đứng đầu

199 là 199 – 1 = 198

1000 là 1000 – 1 = 999

a là -1

Tỉ dụ 3: Viết số thiên nhiên có 4 chữ số gồm các chữ số 0 và 1, mỗi số hiện ra 2 lần.

Hướng áp giải pháp:

Giả sử số bạn muốn tra cứu là abcd

Làm như sau:

Số bạn đang tìm là 1 số thiên nhiên, vì thế 0 có tức là a = 1. Do đấy, còn lại 1 và 2 0 để xếp vào 3 địa điểm còn lại.

Nếu đặt chữ số 0 vào địa điểm b thì số cần tìm là 1001 hoặc 1010.

Nếu xếp chữ số 1 vào địa điểm b thì số cần tìm là 1100.

Do đấy, bạn có thể tìm thấy 3 số, 1001. 1010; 1100

Tỉ dụ 4: Tìm số thiên nhiên ab. Biết rằng a là số lẻ từ 3 trở xuống và b là số xếp sau 6 và đứng trước 8.

Hướng áp giải pháp:

Số thiên nhiên ab (a có 10 chữ số) b là chữ số hàng đơn vị nên a ≠ 0

Vì a là số lẻ bé hơn hoặc bằng 3 nên a = 1 hoặc a = 3

b = 7 vì b là số xếp sau số 6 và đứng trước số 8.

Số cần tìm là 17 hoặc 37

3..Bài toán trắc nghiệm

câu hỏi 1: Số sau +2 là

A. a + 1

3

C. a + 3

D. a – 3

Hướng áp giải pháp:

giải đáp:

Số sau a + 2 là a + 2 +1 = a + 3

Thi thiên 2: Điền vào chỗ trống để được 3 số thiên nhiên tăng liên tục: 49,….,….

A. 50; 51

B. 51; 53

C. 48; 47

D. 59; 69

Hướng áp giải pháp:

Trả lời: A

Có 49, 50, 51 để tăng 3 số thiên nhiên liên tục.

Câu hỏi 3: Cho A là các số thiên nhiên từ 7 trở xuống. Hình nào sau đây có thể trình diễn A?

A. A = {0; Trước tiên; 2; 3; 4; 5; 6; 7}

B. A = {0; Trước tiên; 2; 3; 4; 5; 6}

C. A = n

D. A = n 7

Hướng áp giải pháp:

Xem thêm  Trút mọi muộn phiền với top 5 game đập phá thả ga, phá hủy mọi thứ sau đây

Trả lời: A

A là các số thiên nhiên từ 7 trở xuống.

Phương án 1: A = {0; 1; 2; 3; 4; 5; 6; 7}

Phương án 2: A = n 7

Câu hỏi 4: Vui lòng chọn câu sai trong số các câu sau

A.0 ko được bao gồm trong N *

B. N có số a, còn N * thì ko.

Có 1 số b thuộc C. N * nhưng mà ko thuộc N

D.8 Nữ

Hướng áp giải pháp:

giải đáp:

A. N * = {1; 2; 3; 4;…} nên 0 chẳng phải là N * True.

B. N có số a, nhưng mà N * → True thì ko.Tỉ dụ, số 0 N, nhưng mà chẳng phải trong N *

C. Vì tất cả các phần tử của N * đều thuộc tập N nên có 1 số b thuộc N * nhưng mà ko thuộc N → Sai.

D.8N → Đúng

Câu hỏi 5: Nếu thêm chữ số 8 vào sau số thiên nhiên có 3 chữ số thì số thiên nhiên mới có dạng như sau:

A. Cộng 8 đơn vị với số thiên nhiên cũ.

B. Tăng gấp 10 lần và gấp 8 lần số thiên nhiên cũ.

C. Nâng cao 10 lần số thiên nhiên cũ.

D. 10 lần kém số thiên nhiên cũ 8 đơn vị.

Hướng áp giải pháp:

Trả lời: Xóa

Thêm 8 vào sau số thiên nhiên có 3 chữ số sẽ nhân số thiên nhiên mới với 10 và thêm 8 đơn vị so với số thiên nhiên cũ.

Câu hỏi 6: Số thiên nhiên to nhất có 3 chữ số không giống nhau là:

A. 999

B. 988

C.989

D. 987

Hướng áp giải pháp:

Trả lời: Dễ ợt

Vì a 0 và a là cực đại nên a = 9

b to nhất bé hơn 9 nên b = 8

c to nhất bé hơn 8 nên c = 7

Con số đấy là 987

Phần 7: Cho số thiên nhiên có 4 chữ số là 8753. Gicửa ải thích nào sau đây ko đúng?

A. Địa điểm thứ 10 là 5.

B. 1/100 là 87

C. 8753 = 8000 + 700 + 50 +3

D. Số thiên nhiên to nhất có 4 chữ số

Hướng áp giải pháp:

Trả lời: Dễ ợt

A. 10 chữ số là 5 → Đúng

B. 1/100 là 87 → Đúng

C. 8753 = 8000 + 700 + 50 + 3 → Đúng

D. Số thiên nhiên to nhất có 4 chữ số → Số thiên nhiên có 4 chữ số to nhất là 9999 nên sai.

Mục 8: Chữ số La Mã XXVIII tương ứng với 1 trị giá thập phân.

A. 27

B. 28

C. 29

D. 30

Hướng áp giải pháp:

Trả lời: Xóa

Chữ số La mã XXVIII tương ứng với trị giá 28

Phần 9: Cho 3 chữ số 0, 2, 4, có bao lăm số thiên nhiên có 3 chữ số không giống nhau?

A. 2

B. 3

C. 4

D. 5

Hướng áp giải pháp:

giải đáp:

Vì a 0 nên a = 2 hoặc a = 4

Nếu a = 2, thì b = 0 hoặc b = 4, bạn thu được 2 số, 204 và 240.

Nếu a = 4 thì b = 0 hoặc b = 2, ta được 2 số 402 và 420.

Do đấy, số cần tìm là 204. 240; 420; 402

Câu 10: Đọc các chữ số La Mã sau XI. XXII; XIV; LXXXV?

A. 11; 22; 14; 535

B. 11; 21; 14; 85

C. 11; 22; 16; 75

D. 11; 22; 14; 85

Hướng áp giải pháp:

Trả lời: Dễ ợt

XI là 11

XXII là 22

XIV là 14

LXXXV là 85

Đây là nội dung của tài liệu N và N *, quy trình của các số thiên nhiên Toán 6.. Để xem tài liệu tham khảo hữu dụng hơn, các em có thể chọn xem trực tuyến hoặc đăng nhập hoc247.net để tải tài liệu về máy.

Mong rằng tài liệu này sẽ giúp các em học trò ôn tập và đạt hiệu quả cao trong học tập.

Bạn cũng có thể rà soát 1 số khoáng sản khác từ cùng chủ đề tại đây:

  • Dạng toán về tia phân giác của góc Math6
  • Dạng toán về Tam giác Toán 6

Chúc may mắn với nghiên cứu của bạn!

..

Xem thêm về bài viết

N và N*, quy trình trong số thiên nhiên Toán 6

[rule_3_plain]

Để giúp các em học trò có thêm nhiều tài liệu ôn luyện tri thức và kỹ năng giải bài tập, HOC247 xin gửi tới  N và N*, quy trình trong số thiên nhiên Toán 6. Mời các em cùng tham khảo.

TẬP HỢP N VÀ TẬP HỢP N *, THỨ TỰ TRONG TẬP HỢP SỐ TỰ NHIÊN

1. Phương pháp giải

các số thiên nhiên được kí hiệu là N.

N = {0;1;2;3;4;…}

các số thiên nhiên khác 0 kí hiệu là N*

N* = {1;2;3;4;…}

Thứ tự trong số thiên nhiên

+ Trong 2 số thiên nhiên không giống nhau, có 1 số bé hơn số kia. Khi số a bé hơn số b, ta viết a < b hoặc b > a

+ Người ta cũng viết a b đề chỉ a < b hoặc a = b, viết b a để chỉ b > a hoặc b = a.

+ Nếu a < b và b < c thì a < c

 + Mỗi số thiên nhiên có 1 số liền sau độc nhất

+ 0 là số thiên nhiên bé nhất và ko có số thiên nhiên to nhất.

+ N có vô khối phần tử

Ghi số thiên nhiên

+ Số thiên nhiên có 2 chữ số kí hiệu là: ab= 10a + b trong đấy a là chữ số hàng chục, b là chữ số hàng đơn vị

 + số thiên nhiên có 3 chữ số kí hiệu là: abc= 100a + 10b + c Trong đấy a là chữ số hàng trăm, b là chữ số hàng chục, c là chữ số hàng đơn vị.

Ghi số La Mã

Các chữ số La Mã thường dùng và trị giá tương ứng

I : 1

V: 5

X: 10

Từ các số La Mã trên, ta có thể ghép lại và tạo thành 1 vài số như sau:

I

1

II

2

III

3

IV

4

V

5

VI

6

VII

7

VIII

8

IX

9

X

10

Nếu thêm vào bên trái mỗi số trên:

+ 1 chữ số X ta được các số La Mã từ 11 tới 20

+ Hai chữ số X ta được các số La Mã từ 21 tới 30

Tỉ dụ: XVIII : 18

XXVIII: 28

2. Tỉ dụ minh họa

Tỉ dụ 1:

a. Viết A các số thiên nhiên x nhưng mà 8 : x = 2

b. Viết B các số thiên nhiên nhưng mà x + 3 < 5

c. D các số thiên nhiên nhưng mà x : 2 = x : 4

d. E các số thiên nhiên x nhưng mà x + 0 = x

Hướng áp giải:

Ta có 8 : x = 4

x = 8 : 4

x = 2

A = {2}

Ta có: x + 3 < 5

x < 5 – 3

x < 2 nhưng mà x là số thiên nhiên nên x = 0 và x = 1

Vậy B = {0;1}

Ta có:

X : 2 = x : 4

Nên x = 0

Vậy D = {0}

Với 1 số bất kì cùng với 0 đều bằng chính nó

Nên x ∈ {0;1;2;3;4;…}

Hay E = N

Tỉ dụ 2: Cho các số thiên nhiên 199; 1000; a (a ∈ N* )

a. Hãy viết số thiên nhiên liền sau của mỗi số

b. Hay viết số thiên nhiên liền trước của mỗi số

Hướng áp giải:

a. Số thiên nhiên liền sau của

199 là 199 + 1 = 200

1000 là 1000 + 1 = 1001

a là a+ 1

b. Số thiên nhiên liền trước của

199 là 199 – 1 = 198

1000 là 1000 – 1 = 999

a là a -1

Tỉ dụ 3: Viết các số thiên nhiên có 4 chữ số được lập nên từ chữ số 0 và 1 nhưng mà trong đấy mỗi chữ số hiện ra 2 lần

Hướng áp giải:

Giả sử số cần tìm là abcd

Ta tiến hành các bước sau:

Số cần tìm là số thiên nhiên nên a ≠ 0 suy ra a = 1. Như vậy ta còn chữ số 1 và 2 chữ số 0 để xếp vào 3 địa điểm còn lại

Nếu xếp chữ số 0 vào địa điểm b thì ta được số cần tìm là 1001 hoặc1010

Nếu xếp chữ số 1 vào địa điểm b thì ta được số cần tìm là 1100

Vậy ta có 3 số cần tìm là 1001; 1010; 1100

Tỉ dụ 4: Tìm số thiên nhiên ab. Biết a là 1 số lẻ ko to hơn 3 và b là 1 số đứng liền sau số 6 và đứng liền trước số 8

Hướng áp giải:

Số thiên nhiên ab có a là chữ số hàng chục b là chữ số hàng đơn vị do dó a ≠ 0

Nhưng a là số lẻ ko to hơn 3 nên a = 1 hoặc a = 3

b là số liền sau số 6 và đứng liền trước số 8 nên b = 7

Vây số cần tìm là 17 hoặc 37

3. Bài tập trắc nghiệm

Câu 1: Số liền sau a + 2 là

A. a+ 1

B. a

C. a + 3

D. a – 3

Hướng áp giải:

Đáp án: C

Số liền sau a + 2 là a+ 2 +1 = a+ 3

Câu 2: Điền vào chỗ trống để có được 3 số thiên nhiên liên tục tăng dần : 49, …., ….

A. 50;51

B. 51;53

C. 48;47

D. 59;69

Hướng áp giải:

Đáp án: A

Để có được 3 số thiên nhiên liên tục tăng dần thì ta có 49, 50, 51

Câu 3: Cho A là tập các số thiên nhiên bé hơn hoặc bằng 7. Cách viết nào sau đây trình diễn A

A. A = {0; 1; 2; 3; 4; 5; 6; 7}

B. A = {0; 1; 2; 3; 4; 5; 6}

C. A = n < 7

D. A = n ≤ 7

Hướng áp giải:

Đáp án: A

A là tập các số thiên nhiên bé hơn hoặc bằng 7

Cách 1: A = {0;1;2;3;4;5;6;7}

Cách 2: A = n ≤ 7

Câu 4: Chọn các khẳng định sai trong các khẳng định sau

A. 0 ko thuộc N*

B. Còn đó số a thuộc N nhưng mà ko thuộc N*

C. Còn đó số b thuộc N* nhưng mà ko thuộc N

D. 8 ∈ N

Hướng áp giải:

Đáp án: C

A. 0 ko thuộc N* Đúng vì N* = {1;2;3;4;…}

B. Còn đó số a thuộc N nhưng mà ko thuộc N* → Đúng. Tỉ dụ số 0 ∈ N nhưng mà ko thuộc N*

C. Còn đó số b thuộc N* nhưng mà ko thuộc N → Sai vì mọi phần tử của N* đều thuộc tập N

D. 8 ∈ N → Đúng

Câu 5: Thêm số 8 vào sau số thiên nhiên có 3 chữ số thì ta được số thiên nhiên mới là

A. Tăng 8 đơn vị số với số thiên nhiên cũ.

B. Tăng gấp 10 lần và thêm 8 đơn vị so với số thiên nhiên cũ.

C. Tăng gấp 10 lần so với số thiên nhiên cũ.

D. Giảm 10 lần và 8 đơn vị so với số thiên nhiên cũ.

Hướng áp giải:

Đáp án: B

Thêm số 8 vào sau số thiên nhiên có 3 chữ số thì ta được số thiên nhiên mới tăng gấp 10 lần và thêm 8 đơn vị so với số thiên nhiên cũ.

Câu 6: Số thiên nhiên to nhất có 3 chữ số không giống nhau là:

A. 999

B. 988

C. 989

D. 987

Hướng áp giải:

Đáp án: D

a ≠ 0 và a to nhất nên a = 9

b to nhất và bé hơn 9 nên b = 8

c to nhất và bé hơn 8 nên c = 7

Vậy số đấy là 987

Câu 7: Cho số thiên nhiên có 4 chữ số 8753. Phát biểu nào sau đây là sai?

A. Chữ số hàng chục là 5

B. Số trăm là 87

C. 8753 = 8000 + 700 + 50 +3

D. Là số thiên nhiên lón nhất có 4 chữ số

Hướng áp giải:

Đáp án: D

A. Chữ số hàng chục là 5 → Đúng

B. Số trăm là 87 → Đúng

C. 8753 = 8000 + 700 + 50 +3 → Đúng

D. Là số thiên nhiên lón nhất có 4 chữ số → Sai vì số thiên nhiên to nhất có 4 chữ số là 9999

Câu 8: Số La mã XXVIII tương ứng với trị giá nào trong hệ thập phân:

A. 27

B. 28

C. 29

D. 30

Hướng áp giải:

Đáp án: B

Số La mã XXVIII tương ứng với trị giá là 28

Câu 9: Cho 3 chữ số 0, 2, 4. Hỏi có bao lăm số thiên nhiên có 3 chữ số nhưng mà các chữ số không giống nhau?

A. 2

B. 3

C. 4

D. 5

Hướng áp giải:

Đáp án: C

Vì a ≠ 0 nên a = 2 hoặc a = 4

Khi a = 2 thì b = 0 hoặc b= 4 ta được 2 số là 204 và 240

Khi a= 4 thì b = 0 hoặc b = 2 ta được 2 số là 402 và 420

Vậy các số cần tìm là 204; 240; 420; 402

Câu 10: Đọc các số La mã sau XI; XXII; XIV; LXXXV là?

A. 11; 22; 14; 535

B. 11; 21; 14; 85

C. 11; 22; 16; 75

D. 11; 22; 14; 85

Hướng áp giải:

Đáp án: D

XI là 11

XXII là 22

XIV là 14

LXXXV là 85

Trên đây là nội dung tài liệu  N và N*, quy trình trong số thiên nhiên Toán 6. Để xem thêm nhiều tài liệu tham khảo hữu dụng khác các em chọn công dụng xem trực tuyến hoặc đăng nhập vào trang hoc247.net để tải tài liệu về máy tính.

Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các em học trò ôn tập tốt và đạt thành quả cao trong học tập.

Ngoài ra các em có thể tham khảo thêm 1 số tư liệu cùng phân mục tại đây:

Các dạng toán về Tia phân giác của góc Toán 6
Các dạng toán về Tam giác Toán 6

​Chúc các em học tập tốt !

Bộ 5 đề thi chọn HSG môn Toán lớp 8 Trường THCS Mỹ An

231

Chuyên đề Phần mềm hệ thức Vi-ét Toán 9

674

Bộ 5 đề thi chọn HSG môn Toán lớp 6 trường THCS Trường Sơn

289

Bồi dưỡng HSG chuyên đề Các bài toán về sự chia hết của số nguyên Toán 8

396

Bồi dưỡng HSG chuyên đề Hoán vị, tổ hợp Toán 8

326

Bồi dưỡng HSG chuyên đề Phân tích đa thức thành nhân tử Toán 8

454

[rule_2_plain]

#Tập #hợp #và #tập #hợp #thứ #tự #trong #tập #hợp #số #tự #nhiên #Toán


  • #Tập #hợp #và #tập #hợp #thứ #tự #trong #tập #hợp #số #tự #nhiên #Toán
  • Tổng hợp: DaiLyWiki

Như vậy, trong nội dung bài viết trên đây, DaiLy Wiki đã cập nhật cho bạn thông tin về “Tập hợp N và tập hợp N*, thứ tự trong tập hợp số tự nhiên Toán 6❤️️”. Hy vọng thông qua những gì bài viết “Tập hợp N và tập hợp N*, thứ tự trong tập hợp số tự nhiên Toán 6” đã chia sẻ có thể giúp bạn đọc thêm nhiều thông tin về “Tập hợp N và tập hợp N*, thứ tự trong tập hợp số tự nhiên Toán 6 [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết về “Tập hợp N và tập hợp N*, thứ tự trong tập hợp số tự nhiên Toán 6” được sưu tầm và đăng bởi admin DaiLy Wiki vào ngày 2022-09-26 14:30:50. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại Dailywiki.org

Rate this post
Continue Reading

Blog

LMHT: Cộng đồng game thủ vui mừng khi Riot Games loại bỏ Thợ Săn Tham Lam tại bản 12.6

Published

on

Liên minh huyền thoại: Đa số người chơi vui mừng khi Riot Games loại bỏ Thợ săn tham lam trong bản vá 12.6

[rule_3_plain]

Phiên bản 12.6 của Liên Minh Huyền Thoại sẽ loại bỏ hoàn toàn Greed Hunter và điều này đang nhận được rất nhiều sự đồng thuận của người chơi.

Trong một phát hiện mới nhất của đông đảo người chơi Liên Minh Huyền Thoại, Riot Games đã tung ra một số chỉnh sửa nhỏ cho định dạng 12.6 sắp tới. Bên cạnh những bộ trang phục mới ra mắt, việc chỉnh sửa bảng rune bổ trợ cũng nhận được rất nhiều thiện tâm từ phía người chơi.

Theo đó, Riot đang thí điểm loại bỏ hoàn toàn Thợ Săn Tham Lam và thay thế bằng một viên ngọc mới mang tên Thợ Săn Kho Báu. Cụ thể, tác dụng của viên ngọc này sẽ cho phép game thủ nhận được nhiều vàng hơn trong lần đầu tiên hạ gục tướng. Đây cũng được bình chọn là loại ngọc thích hợp cho những game thủ thích giao tranh sớm giết địch.
Dù chưa biết Thợ Săn Kho Báu có bị hạ gục hay không nhưng việc Riot Games loại bỏ Thợ Săn Tham Lam đã nhận được rất nhiều sự đồng thuận của đa số người chơi. Nguyên nhân là do Thợ Săn Tham Lam mang đến kỹ năng hồi phục rất mất cân bằng.

Cũng bởi vậy mà thay vì tận dụng các trang bị chống chịu, các vị tướng đang dần lạm dụng Thợ Săn Tham Lam để có được nguồn hồi phục quá mạnh, từ đó sống sót tốt trong các giao tranh dài hơi.

Xem thêm  Trút mọi muộn phiền với top 5 game đập phá thả ga, phá hủy mọi thứ sau đây

Với lượt bình chọn ban đầu của trò chơi, Thợ Săn Kho Báu hiện tại chưa mạnh bằng Thợ Săn Tham Lam, tuy nhiên hiện tại viên ngọc này mới chỉ được thử nghiệm lần đầu tiên và vẫn còn thời gian để Riot Games đưa ra những ý tưởng mới. chỉnh sửa cần thiết.
Các thông tin về máy chủ PBE của Liên Minh Huyền Thoại sẽ được DaiLyWiki cập nhật nhanh nhất tới đông đảo người chơi, cùng đón xem.

Đăng lại

[rule_2_plain]

# LMHT # Cộng đồng # người chơi # người chơi # vui vẻ # hành động # Riot # Game #remove #Hunter #Hunter #Tham #Lam #at #version

Như vậy, trong nội dung bài viết trên đây, DaiLy Wiki đã cập nhật cho bạn thông tin về “LMHT: Cộng đồng game thủ vui mừng khi Riot Games loại bỏ Thợ Săn Tham Lam tại bản 12.6❤️️”. Hy vọng thông qua những gì bài viết “LMHT: Cộng đồng game thủ vui mừng khi Riot Games loại bỏ Thợ Săn Tham Lam tại bản 12.6” đã chia sẻ có thể giúp bạn đọc thêm nhiều thông tin về “LMHT: Cộng đồng game thủ vui mừng khi Riot Games loại bỏ Thợ Săn Tham Lam tại bản 12.6 [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết về “LMHT: Cộng đồng game thủ vui mừng khi Riot Games loại bỏ Thợ Săn Tham Lam tại bản 12.6” được sưu tầm và đăng bởi admin DaiLy Wiki vào ngày 2022-09-26 14:29:04. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại Dailywiki.org

Rate this post
Continue Reading

Trending